Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-PT

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Bà Hoàng Thị Hải Hường

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1972; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết); Con bà: Thân Thị T (đã chết); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Đinh Thị N1, sinh năm 1973; Con: Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996;

Nhân thân: Quyết định số 223 ngày 18/8/2022 của Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Bán ô số lô, số đề”, đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 22/8/2022.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 151 ngày 17/9/2022 của TAND thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong thời gian thử thách kể từ ngày 17/11/2023.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã Đ, thành phố B đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích. Bản án hình sự sơ thẩm số 151 ngày 17/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nhang 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”.

Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 05/01/2024, Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958, trú tại thôn P, xã Đ, thành phố B rủ Thân Văn V, sinh năm 1970 ở cùng thôn sang nhà Q uống nước. Một lúc sau, Thân Văn L, sinh năm 1963 ở cùng thôn sang nhà ông Q chơi. Trong khi ngồi uống nước, ông Q gọi điện cho Nguyễn Văn N, sinh năm 1972 ở cùng thôn đến để đánh bạc thì N đồng ý và đi đến nhà ông Q.

Sau khi gặp nhau, ông Q rủ mọi người đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “Phỏm” thì cả 03 người đều đồng ý. Ông Q lấy ra 02 bộ bài Tú lơ khơ gồm 01 bộ bài màu đỏ và 01 bộ bài màu xanh. Bốn người ngồi xuống chiếu ở phòng khách tầng 01 đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” và thống nhất mức thắng thua như sau: Người về theo thứ tự nhì, ba, tư phải trả cho người về nhất tương ứng với số tiền lần lượt là 10.000 đồng, 20.000 đồng và 30.000 đồng; người nào không có phỏm phải trả 40.000 đồng; nếu trong ván phỏm mà có người “Ù” thì mỗi người còn lại phải trả 50.000 đồng. Các đối tượng luân phiên thay đổi và sử dụng 02 bộ bài để đánh bạc cho từng ván.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn Q, Thân Văn LThân Văn V đang đánh bạc thì bị Công an xã Đ, thành phố B kiểm tra hành chính, lập biên bản thu giữ trên chiếu bạc gồm: 02 bộ bài T1 lơ khơ; số tiền 1.010.000 đồng và 01 chiếu nhựa màu xanh được dùng để ngồi đánh bạc.

Ngoài ra, Công an xã Đ còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K của Nhang; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C của Vu; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 của L. Kiểm tra các điện thoại di động nhưng không phát hiện vi phạm gì.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Q khai sử dụng 10.000 đồng để đánh bạc, thắng 210.000 đồng; Thân Văn V khai sử dụng 600.000 đồng đánh bạc, thua 60.000 đồng; Thân Văn L khai sử dụng 180.000 đồng đánh bạc, thua 130.000 đồng; Nguyễn Văn N khai sử dụng 220.000 đồng đánh bạc, thua 20.000 đồng, mọi người không phải nộp tiền hồ cho chủ nhà.

Đối với Nguyễn Văn Q, Thân Văn L có hành vi đánh bạc nhưng đều chưa có tiền án, tiền sự; đối với Thân Văn V, ngày 25/4/2016 đã bị Công an xã Đ, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vào ngày 25/4/2016. Do số tiền các đối tượng dùng đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 03 đối tượng nêu trên.

Về xử lý vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 cho L; trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10C cho V. Những vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 02/02/2024.

Ngoài ra bản án còn quyết định phạt bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 13/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo phần hình phạt bản án sơ thẩm nêu trên và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và trình bày: Bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như bản án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên bản án xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là nặng. Do vậy, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí 200.000 đồng, tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng và bị cáo có bố, mẹ được tặng huân huy chương. Cụ thể Huy chương kháng chiến hạng Nhì của bà Thân Thị T là mẹ bị cáo, Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì của ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của bị cáo và Đơn xin xác nhận đề ngày 27/02/2024 có xác nhận của UBND xã Đ, thành phố B về xác nhận bị cáo có bố là ông Nguyễn Văn C và mẹ là bà Thân Thị Thới .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội và không oan. Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí 200.000 đồng, tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng và bố mẹ đẻ của bị cáo được tặng thưởng các huân huy chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp tiền phạt bổ sung, tiền án phí, bố mẹ đẻ có Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo lời sau cùng: Bị cáo đã rất ăn năn về hành vi phạm tội nên bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Ngày 05/01/2024, N cùng Nguyễn Văn Q, Thân Văn LThân Văn V đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “Phỏm” tại nhà ông Q ở thôn P, xã Đ, thành phố B. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 1.010.000 đồng. Trước đó, bị cáo Nguyễn Văn N đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử đối với bị cáo N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt: xét kháng cáo của cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm an ninh, trật tự công cộng. Bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điển s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo N 09 tháng tù là đã cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp tài liệu thể hiện bố, mẹ bị cáo được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến. Ngoài ra, bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung. Như vậy, thể hiện sự ăn năn hối cải và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Xét thấy, tại cấp phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn N. Sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn N đã nộp 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm ngàn đồng). (Trong đó gồm: 10.000.000 đồng tiền phạt và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm) theo Biên lai thu tiền số 0001144 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 02/02/2024.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn N đã nộp 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001144 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-PT ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 95/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger