|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 16-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Bà Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 04 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Xuân H, sinh ngày 30 tháng 01 năm 1970 tại Tuyên Quang; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở: Tổ dân phố Á, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Đình Q, đã chết; và bà Ma Thị C, sinh năm 1945; có vợ Vũ Thanh T, sinh năm 1966; và 01 con; tiền án, tiền sự không.
Nhân thân: 04.
- Tại bản án số 91/2003/HSST ngày 18/8/2003, Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý; chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2004.
- Tại bản án số 42/2005/HSST ngày 14/7/2005, Toà án nhân dân thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2006; nộp án phí ngày 15/3/2006.
- Tại bản án số 29/2015/HSST ngày 01/9/2015, Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2016; đã nộp án phí ngày 13/12/2015.
- Tại bản án số 13/22018/HSST ngày 23/02/2018, Toà án nhân dân thành phố T xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2019; đã nộp án phí ngày 08/5/2018.
Bị cáo bị bắt ngày 14/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thanh T, sinh năm 1966, địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Đào Ngọc T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tổ công tác Công an phường C, thành phố T, đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường C, thành phố T thì phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô BKS 20M2 – 1877 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Vương Xuân H, đồng thời H tự giác lấy từ trong túi áo trên cánh tay phải Huấn đang mặc ra một gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu H). H khai là ma túy Heroine của H mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vương Xuân H, niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ một chiếc xe mô tô BKS 20M2-1877, đã qua sử dụng.
Hồi 10 giờ ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H có khối lượng 0,546 gam (niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định).
Tại bản kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,546 gam.
Tại cơ quan điều tra, Vương Xuân H khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20M2-1877 đi từ thành phố P đến khu vực cầu G, thuộc phường Đ, thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Mua xong, H cất gói ma túy vừa
mua được vào túi trên tay áo bên phải H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi H đi đến khu vực tổ F, phường C, thành phố T, chưa kịp sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an phường C, thành phố T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng vụ án: 02 phong bì niêm phong ký hiệu H1, H2. 01 xe mô tô, BKS: 20M2-1877, đã qua sử dụng; Chiếc xe này là tài sản chung của Vương Xuân H và vợ là chị Vũ Thanh T (sinh năm 1960, HKTT: tổ C, phường C, thành phố T). Hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Cáo trạng số 81/CT-VKSTPTN ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vương Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vương Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Vương Xuân H từ 18 đến 21 tháng tù. Phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định; bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa vắng mặt của người chứng kiến, việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vương Xuân H khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại tổ F, phường C, thành phố T, Vương Xuân H có hành vi tàng trữ 0,546 gam chất ma túy, loại Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường C, T bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Vương Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, H1, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
[5] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma tuý, đã 04 lần bị xét xử, trong đó có 02 lần bị xét xử về các tội phạm ma tuý, 02 lần bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu. Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Ma Thị C được Chủ tịch nước thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do đã có thành tích trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện, có thái độ coi thường pháp luật. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có việc làm ổn định, hiện đang tạm giam, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng: Đối với 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2 cần tịch thu tiêu huỷ. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định chiếc xe mô tô BKS 20M2-1877 là của chị Vũ Thanh T, việc bị cáo H sử dụng đi mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý chị T không biết, do đó cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ, H khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, tại khu vực cầu G (phường Đ, thành phố T). Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Vương Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 296, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng
hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Vương Xuân H 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 0,524 gam ma tuý, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
- Trả cho chị Vũ Thanh T 01 xe mô tô BKS 20M2-1877, màu sơn nâu, số loại 100, nhãn hiệu FAVOUR, loại xe hai bánh từ 50-150cm3, số máy VTT1P50FMGZ005261, số khung RRKDCG4UM7X005261, dung tích xi lanh 97cm3, năm sản xuất 2007, đã qua sử dụng.
Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 140 ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Lành – Trần Thanh Vân |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
