|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HS-ST
Ngày: 15 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Ông Lý Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn B, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2003 tại Trà Vinh; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T và bà Trần Thị T1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Dương Văn B 07 năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Bị khởi tố cho tại ngoại điều tra đến nay (Đang bị tạm giam trong vụ án khác), bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Danh T2, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, xin vắng mặt.
Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH V do ông WAN SHAOXI – Tổng giám đốc đại diện.
Địa chỉ trụ sở: Lô C - C16, Đường số G, KCN T, Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông WAN SHAOXI: Bà Trần Thúy D, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Ấp F, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Văn K, sinh năm 2005.
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1977.
Nơi cư trú: Khóm A, xã A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Người tham gia tố tụng khác
Người làm chứng:
- Ông Abu B1, sinh năm 1997, vắng mặt.
- Ông Hồ Đăng K1, sinh năm 1991, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn ghen tuông về chuyện tình cảm giữa bị cáo Dương Văn B và bị hại Danh T2 nên khoảng 19 giờ 30 ngày 13 tháng 7 năm 2023, bị cáo B nhờ Lê Văn K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave không có biển kiểm soát chở bị cáo B đến cổng đến Công ty trách nhiệm hữu hạn V. Khi đến nơi, bị cáo B xuống xe đi vào bên trong xưởng số 02 của Công ty và tiếp tục đi xuống cuối xưởng nhặt lấy 01 cây kim loại hình vuông, dẹp một đầu, dài khoảng 60cm (vật liệu tự chế dùng để nạy khuôn giày) tại bộ phận khuôn ép giày rồi đi đến chuyền C3 bộ phận thành hình. Lúc này, bị cáo B nhìn thấy bị hại Danh T2 đang đứng làm việc nên bị cáo B đi lại đứng phía bên phải bị hại Danh T2 rồi cầm cây kim loại bằng tay trái đánh 01 cái theo hướng từ trái sang phải trúng vào vai phải của bị hại T2 nhưng không gây thương tích, bị hại T2 quay người lại thì bị cáo B tiếp tục cầm cây kim loại bằng tay trái đánh 01 cái theo hướng từ dưới lên trúng vào vùng trán bên phải của bị hại T2 gây thương tích. Sau khi bị cáo B đánh gây thương tích cho bị hại T2 rồi bỏ chạy bộ ra cổng và dấu cây kim loại đánh bị hại T2 dọc theo cánh tay phải ép sát vào người. Ra đến cổng, bị cáo B ngồi lên xe môtô K chở về và khi đi đến cầu A thì bị cáo B ném cây kim loại xuống kênh. Sau đó, bị hại Danh T2 được đưa đến Bênh viện đa khoa C, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích.
Ngày 20 tháng 7 năm 2024, bị hại Danh T2 đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo Dương Văn B theo pháp luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 cây kim loại hình vuông, dẹp một đầu, dài khoảng 60 cm (vật liệu tự chế dùng để nạy khuôn giày) là hung khí bị cáo Dương Văn B sử dụng đánh gây thương tích cho bị hại Danh T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy do bị cáo B vứt xuống kênh dưới cầu A thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 374 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh L kết luận:
- Các kết quả chính:
- 01 sẹo vết thương vùng trán phải kích thước trung bình.
- Đường nứt dọc xương trán khoảng 26mm.
- Lún bản sọ trong và ngoài xương trán phải khoảng 25 x 14mm.
- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh T2 tại thời điểm giám định định là: 29% (Hai mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- 01 sẹo vết thương vùng trán phải kích thước trung bình. Tỷ lệ 06% (Sáu phần trăm).
- Đường nứt dọc xương trán khoảng 26mm. Tỷ lệ 05% (Năm phần trăm).
- Lún bản sọ trong và ngoài xương trán phải khoảng 25 x 14mm. Tỷ lệ 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
Kết luận khác: Vết thương do vật tày gây ra.
Tại văn bản số 154/TTPY-GĐTH ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y trả lời giải trình kết luận giám định như sau:
“Đối với thương tích của Danh T2, nếu không cấp cứu kịp thời thì không dẫn đến tử vong”
Ngày 23 tháng 9 năm 2023, bị hại Danh T2 đã thỏa thuận với mẹ bị cáo B nhận số tiền 15.000.000đồng khắc phục hậu quả xong.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn B hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị T1 trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo B, khi sự việc xảy ra thì bị cáo có yêu cầu bà thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đồng.
Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Dương Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự – thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này), điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Xử phạt bị cáo Dương Văn B mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Đồng thời, căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, buộc bị cáo B chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2023.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại T2 sau khi thỏa thuận với bà T1 là mẹ của bị cáo B nhận số tiền 15.000.000đồng xong không có yêu cầu gì khác nên không để cập xem xét.
Bà T1 không yêu cầu bị cáo B trả lại số tiền 15.000.000đồng mà bà đã bỏ ra bồi thường cho bị hại T2 nên không đề cập xem xét.
Về tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành truy tìm nhưng không thu thập được. Do đó, không đề cập xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn B khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 7 năm 2023, do ghen tuông giữa bạn gái của bị cáo B đã chia tay và quen với bị hại Danh T2 nên tại Công ty trách nhiệm hữu hạn V thuộc đường số G, Khu công nghiệp T thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Dương Văn B có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là cây kim loại hình vuông, dẹp một đầu, dài khoảng 60cm gây thương tích tại vùng trán của bị hại Danh T2 với tỉ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 29%.
Lời khai nhận của bị cáo Dương Văn B trước Tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, của nguyên đơn dân sự, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của những người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung Cáo trạng. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này).
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Dương Văn B với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Dương Văn B gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại Danh T2 mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó là sẽ gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và để mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cân xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận với bị hại bồi thường số tiền 15.000.000đồng để khắc phục phần trách nhiệm dân sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội và ông bà ngoại là người có công với cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo B là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây kim loại hình vuông, dẹp một đầu, dài khoảng 60 cm (vật liệu tự chế dùng để nạy khuôn giày) là hung khí bị cáo Dương Văn B sử dụng đánh gây thương tích cho bị hại Danh T2 nhưng bị cáo B đã vứt xuống kênh dưới cầu A thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Bị hại Danh Thông sau khi nhận số tiền 15.000.000đồng không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị T1 không yêu cầu bị cáo trả lại cho bà số tiền 15.000.000đồng mà bà đã bỏ ra bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6.3] Nguyên đơn dân sự Công ty TNHH V không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Dương Văn B phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 1 và khoản 3 Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn B 03 năm tù.
Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Buộc bị cáo B chấp hành hình phạt chung cho 02 bản án là 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Văn B 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15 tháng 7 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn B chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: co y
