|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hoàng Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Mới
- 2. Bà Trần Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:116/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 456/2024/QĐST-DS ngày 24/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1948
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1952
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Văn K1 bày: Vào năm 1981 ông và bà T1 sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2001 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc và có 04 người con tên Nguyễn Thị H T1sinh năm 1981, Nguyễn Thị H T2sinh năm 1985, Nguyễn Hoàng G năm 1987 và Nguyễn Vũ L năm 1991, các cháu đã trưởng thành và có gia đình riêng. Đến năm 2017, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bà T2 sang Hàn Quốc sinh sống cùng hai con, bỏ mặt ông không lo cho gia đình từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt. Năm 2020 khi bà T về Việt N sinh sống thì vợ chồng cũng sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị T3 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung, tài sản chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Ông K2 giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông bà T. Về con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung, tài sản chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Trần Thị T vắng mặt nên không rõ ý kiến
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết cho thấy, đây là vụ án hôn nhân và gia đình, về việc tranh chấp ly hôn, bị đơn có địa chỉ tại huyện T các Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Theo như ông K1 bày, mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ năm 2017 khi bà T2 sang nước Hàn Quốc sống cùng hai người con, đến năm 2020, khi bà T4 Việt Nam sinh sống, thì ông bà đã sống ly thân đến nay do đó có căn cứ xác định ông, bà thực sự có mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K
Về con chung: đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông K xác định không có nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Nguyên đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K3 ly hôn với bà Trần Thị T
- Về con chung: Đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông K4 không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn K là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
2
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Hoàng Giang |
3
Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
