|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2024/HS-ST
Ngày 10-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Hùng.
2. Bà Đỗ Thị Ngân.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Ảnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng P – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 07/2024/QĐ-TA ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu H, sinh ngày 26-10-2005 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu L (chết) và bà Phan Thị Thùy T, sinh năm: 1980; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị bắt tạm giam ngày 07-6-2024 (có mặt).
Bị hại: Ông Đoàn Công T1, sinh năm: 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người làm chứng: Cháu Trần L1, sinh ngày 21-01-2009 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người giám hộ của người làm chứng: Anh Dụng Quý T2, sinh năm: 2000 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03-5-2024, Nguyễn Hữu H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 72L4 - 6598 chở Trần L1 đến khu vực dãy 9 thuộc ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đưa cục sạc điện thoại cho một người bạn tên L2. Sau khi lấy cục sạc L2 vào nhà, còn H và L1 chuẩn bị về thì gặp ông Đoàn Công T1 đang đi bộ trong tình trạng đã sử dụng rượu bia đến gần và nói “Bọn bay đi đâu mà khuya còn ở đây”. Thấy H và L1 không nói gì nên ông T1 dùng tay đánh 01 cái vào vùng đầu của H, nhưng không gây thương tích. Bực tức do bị đánh nên H bước xuống xe dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải làm ông T1 té ngã đập đầu xuống đường. Sau đó, ông T1 đứng dậy đi được vài bước thì tiếp tục ngã xuống đường ngất tại chỗ. Sau đó, ông T1 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ thuộc thị trấn L, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 05-5-2024, ông Nguyễn Văn L3 (công an viên phụ trách) thông báo sự việc đến Công an xã Q.
Ngày 08-5-2024, Công an xã Q chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Đến ngày 23-5-2024, ông Đoàn Công T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với H và giám định tỷ lệ thương tích.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Hữu H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 197/KLTTCT/PYBRVT ngày 28-5-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định và cận lâm sàn:
- + 02 sẹo nhỏ.
- + 01 sẹo trung bình.
- + Chưa ghi nhận hình ảnh sóng hoặc phức hợp gai sóng kiểu động kinh tại thời điểm ghi điện não đồ.
- + Khuyết sọ kích thước lớn (đường kính > 10cm), đáy mềm phập phồng.
- + Nứt xương đá trái (đã phẫu thuật xử lý hố thái dương).
- + Tụ máu ngoài màng cứng kèm tụ khí nội sọ chẩm trái. Dập xuất huyết não (02 ổ), xuất huyết khoang dưới nhện trán, thái dương trái; đã lấy máu tụ, không còn ổ tổn thương. Hiện tại chưa có rối loạn về tâm thần kinh.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Công Tâm tại thời điểm giám định là: 64% (sáu mươi bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Thương tích do vật gì gây nên, cơ chế hình thành vết thương: Thương tích của nạn nhân được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật rắn tầy, cơ chế: Va đập.
- Tỷ lệ phần trăm thương tích từng vết thương:
- + Thương tích 1: Có tỷ lệ thương tật là 64%.
- + Thương tích 2: Có tỷ lệ thương tật là 01%.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đoàn Công T1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị thương tích và tổn thất về tinh thần 200.000.000 đồng, nhưng H chưa thực hiện bồi thường.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 72L4 – 6598, Nguyễn Hữu H sử dụng chở Trần Lương n xảy ra vụ việc, nhưng không liên quan đến vụ án. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKS-CĐ ngày 07-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.
· Về trách nhiệm dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bồi thường 150.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD-R lưu trữ thông tin buổi hỏi cung bị cáo H có ghi âm, ghi hình.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; đồng ý bồi thường cho bị hại 150.000.000 đồng; không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để sớm được trở về với gia đình hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 150.000.000 đồng và đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận nội dung vụ án như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03-5-2024, tại dãy 9 thuộc ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do bức xúc vì vô cớ bị ông Đoàn Công T1 đánh trúng vào vùng mặt nên Nguyễn Hữu H dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải làm ông T1 té ngã xuống đập đầu xuống đường rồi đứng dậy đi được vài bước thì tiếp tục ngã xuống gây thương tích và ngất tại chỗ. Sau đó, ông T1 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ thuộc thị trấn L, tỉnh Đồng Nai. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 197/KLTTCT/PYBRVT ngày 28-5-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông T1 tại thời điểm giám định là 64%. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc gây thương tích cho người khác là trái pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm, nhưng do xem thường quy định của pháp luật và sức khỏe, tính mạng của người khác mà gây thương tích cho bị hại là cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 150.000.000 đồng để khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định và phân tích nói trên, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cần xem xét đến nguyên nhân xảy ra sự việc, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mồ côi cha. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, nhưng bị hại không đồng ý nhận nên cũng xem xét để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra ông T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị, tiền thuốc men đã bỏ ra 60.000.000 đồng, chi phí phẩu thuật lắp ráp sọ não khoảng 45.000.000 đồng và các chi phí khác tổng cộng 200.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại chỉ yêu cầu bồi thường 150.000.000 đồng và bị cáo cũng đồng ý nên ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa DVD-R lưu trữ thông tin buổi hỏi cung bị cáo H có ghi âm ghi hình nên lưu theo hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-6-2024.
2. Xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R lưu trữ thông tin buổi hỏi cung bị cáo Nguyễn Hữu H có ghi âm ghi hình lưu theo hồ sơ vụ án.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 357, 584, 585, 590 và 468 của Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải bồi thường cho ông Đoàn Công T1 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dũng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng phải nộp 7.700.000 (bảy triệu, bảy trăm nghìn) đồng án phí.
5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
6. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Đức |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình sự sơ thẩm về tội "cố ý gây thương tích"
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03-5-2024, tại dãy 9 thuộc ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, do bức xúc vì vô cớ bị ông Đoàn Công T1 đánh trúng vào vùng mặt nên Nguyễn Hữu H dùng tay trái đấm 01 cái vào vùng mặt bên phải làm ông T1 té ngã xuống đập đầu xuống đường rồi đứng dậy đi được vài bước thì tiếp tục ngã xuống gây thương tích và ngất tại chỗ. Sau đó, ông T1 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa L thuộc thị trấn L, tỉnh Đồng Nai. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 197/KLTTCT/PYBRVT ngày 28-5-2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông T1 tại thời điểm giám định là 64%.
