|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày: 10 -7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thụ.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Trương Thị Hiền
Bà Bế Thị Chiều
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị N - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 29/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nông Thị H;
Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 02/02/1987 tại D, Hồ N, H, Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nông Ngọc H1 - sinh năm 1965 (đã chết); Con bà: Hoàng Thị Đ - sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Làm nông; Anh chị em ruột: Bị cáo có 02 chị em, là con cả trong gia đình; Chồng: Trương Văn T; sinh năm 1981; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;Bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2023, đến ngày 30/12/2023 đến nay được thay đổi bằng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xóm N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
-
Họ và tên: Trịnh Thị Đ1;
Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/4/1992 tại Ngũ Lão, H, Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi tạm trú, chỗ ở: xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Văn B; Sinh năm 1959; Con bà: Ma Thị D; Sinh năm 1961; Anh chị em ruột: có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Chồng: Triệu Trung P; sinh năm 1987; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự : KhôngBị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2023, đến ngày 30/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang được tại ngoại ở xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
-
Họ và tên: Trịnh Văn T1;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 01/9/1997, tại Ngũ Lão, H, Cao Bằng; Nơi cư trú: N, N, H, Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Văn C; sinh năm 1972; Con bà: Lý Thị L; sinh năm 1970; Anh chị em ruột: có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.Bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 30/12/2023 được thay đổi bằng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang được tại ngoại ở xóm N, N, H, Cao Bằng, có mặt.
-
Họ và tên: Bùi Đức Q;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 10/10/1986, tại Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Tổ I, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi tạm trú, chỗ ở: Xóm A, B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn C1; sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị P1; sinh năm 1968; Anh chị em ruột: có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Vợ: Vi Thị T2; sinh năm 1987; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự : Không;Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024 đến nay, hiện đang được tại ngoại ở Xóm A, B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
-
Họ và tên: Nguyễn Bá T3;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 14/9/1995 tại thị trấn N, H, Cao Bằng; Nơi cư trú: phố H, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Bá A, sinh năm 1960; Con bà: Phương Thị T4; sinh năm 1965; Anh chị em ruột: có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Vũ Bảo Y; sinh năm 1995; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự : Không;Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024, hiện đang được tại ngoại ở H, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt
-
Họ và tên: Lại Minh C2;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 15/9/1986 tại H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: C, H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lại Văn C3, sinh năm 1952 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1954; Anh chị em ruột: có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ: Lưu Huyền N1; sinh năm 1989; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự : Không;Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024, hiện đang được tại ngoại ở C, H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nông Thị H: Bà Nguyễn Thị T6 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (bào chữa theo quy định của pháp luật), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 27/12/2023, Phòng C5 Công an tỉnh C bắt quả tang Trịnh Thị Đ1 (sinh năm 1992, trú tại xóm N, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) có hành vi ghi, nhận và chuyển số lô, số đề trái phép qua tin nhắn điện thoại di động tại nhà riêng. Khi Tổ công tác đang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với Đ1 thì Trịnh Văn T1 (sinh năm 1997, ở cùng xóm) đến nhà Đ1 với mục đích xác nhận việc T1 mua số lô, số đề với Đ1 nên tổ công tác đã mời T1 ở lại làm việc. Tại nhà Đ1, T1 khai nhận ngày 27/12/2023 được mua với Trịnh Thị Đ1 02 cặp số lô 34, 43 mỗi cặp 150 điểm. Tiến hành kiểm tra nhanh điện thoại của T1 đã phát hiện tin nhắn T1 mua số lô trên với tổng số tiền 6.900.000, đ. Ngoài ra, Trịnh Thị Đ1 cũng khai nhận toàn bộ số lô, số đề được bán cho Trịnh Văn T1 và những người khác sau đó đều được chuyển đi cho Nông Thị H (sinh năm 1987, trú tại: N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng).
Tổ công tác đã tiến hành khám xét chỗ ở của Trịnh Thị Đ1 và Nông Thị H thu giữ: 03 điện thoại di động; 01 quyển vở học sinh bìa màu xanh, 01 quyển sổ bên trong có nội dung liên quan đến việc nhận số lô, số đề trái pháp luật; 23 tờ giấy có kích thước khác nhau có nội dung ghi số lô, số đề trái pháp luật; 01 tờ giấy A4 một mặt có in kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 21/11/2023, mặt còn lại ghi số lô, số đề trái pháp luật và số tiền mặt 3.900.000,đ. Tổ công tác đã đưa các đối tượng trên về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh để tiếp tục điều tra.
Quá trình điều tra đã xác định:
Từ tháng 11 năm 2023, Nông Thị H làm đại lý xổ số cho Nguyễn Xuân C4 (trú tại H, thị trấn N, H, Cao Bằng) là tổng đại lý xổ số của Công ty X hàng ngày H bán vé xổ số tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện H. H còn trực tiếp ghi nhận số lô, số đề trái phép của khách chơi hoặc nhận qua tin nhắn văn bản, tin nhắn ứng dụng Zalo và M, sau đó nộp cho T7 đại lý Nguyễn Xuân C4 để hưởng phần trăm hoa hồng. Nông Thị H đã thỏa thuận với Trịnh Thị Đ1 bảo Đ1 nhận số lô, số đề với khách rồi chuyển cho H sẽ được H trả tiền hoa hồng. Với số lô H nhận từ Đ1 và khách chơi 1 điểm là 23.000đ, sau đó H chuyển đi cho T7 đại lý là 22.000đ/1 điểm lô, H được hưởng lợi 1.000đ/1 điểm lô, còn H sẽ tự trích cho Trịnh Thị Đ1 số tiền từ 50.000đ đến 100.000đ trên tổng số tiền lô Đ1 và người chơi bạc chuyển cho H. Đối với số đề, H được hưởng lợi 5% trên tổng số cược đề của người chơi và trích lại 20% tiền phần trăm cho Đ1 và người chơi, Đ1 được hưởng 20% trên tổng số đề bán cho khách.
Hình thức đặt cược và cách tính trả thưởng của H và Đ1 cho người chơi bạc được tính như sau: Đối với số đề, căn cứ vào hai số cuối của giải đặc biệt của kết qủa xổ số miền B trong ngày, nếu người chơi trúng sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra để mua số đề. Đối với số lô, căn cứ vào hai số cuối của các giải (từ giải đặc biệt đến giải thức bảy) của kết quả xổ số miền B trong ngày, nếu người chơi trúng 1 trong các giải trên thì số tiền trả thưởng tương ứng 1 điểm lô là 80.000,đ, nếu có 02 hay nhiều giải trùng nhau thì được trả gấp số lần tương ứng. Đối với lô xiên 2 tỷ lệ thắng là 1 ăn 10, xiên 3 thì 1 ăn 40, xiên 4 tỷ lệ 1 ăn 100 dựa vào 02 số cuối cùng của kết quả kiến thiết trong ngày, nếu người chơi trùng với 2 hay 03, 04 cặp số cuối của các giải thưởng trong ngày thì trúng thưởng. Đối với hình thức ba càng, tỷ lệ thắng thua là 1 ăn 350, nếu người chơi mua cặp số trùng với ba số cuối của giải đặc biệt mở thưởng của kết quả xổ số trong ngày thì trúng thưởng. Việc thanh toán tiền thắng, thua đối với người chơi đều được H và Đ1 thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Căn cứ vào kết quả điều tra đã xác định được từ tháng 11/2023 đến ngày 27/12/2023, Nông Thị H đã nhận số lô, số đề từ Trịnh Thị Đ1 và người chơi bạc khác như sau:
- Ngày 27/11/2023, Trịnh Thị Đ1 bán số lô cho Trịnh Văn T1 số tiền 2.300.000đ, T1 trúng thưởng được 4.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 6.300.000₫ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng);
- Ngày 5/12/2023, Đ1 bán số lô cho Trịnh Văn T1 và người chơi khác số tiền 4.830.000đ, T1 trúng thưởng được 16.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 20.830.000₫ (Hai mươi triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng);
- Ngày 6/12/2023, Trịnh Thị Đ1 bán số lô, số đề cho T1 và người chơi khác số tiền 2.415.000đ, T1 trúng thưởng được số tiền 12.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 14.415.000đ (Mười bốn triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng);
- Ngày 07/12/2023, Đ1 và H bán số lô, số đề cho Trịnh Văn T1 và người chơi khác với số tiền 2.332.000đ, T1 trúng thưởng được số tiền 4.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 6.332.000đ (Sáu triệu ba trăm ba mươi hai nghìn đồng);
- Ngày 09/12/2023, Đ1 và H bán số lô, số đề cho Trịnh Văn T1 và 02 người chơi khác với số tiền 4.770.000đ, T1 trúng thưởng số tiền 12.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 16.770.000đ (Mười sáu triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng);
- Ngày 12/12/2023 Đ1 bán số lô cho Trịnh Văn T1 được số tiền 2.300.000₫, T1 trúng thưởng 4.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 6.300.000₫ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng);
- Ngày 18/12/2023 Đ1 và H án số lô, số đề cho T1 và người chơi khác được số tiền 6.970.000đ. Người chơi không trúng thưởng.
- Ngày 21/12/2023 Đ1 và H bán số lô, số đề cho nhiều người chơi khác với số tiền 5.860.000đ, T1 trúng thưởng 800.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 6.660.000₫ (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng);
- Ngày 22/12/2023 Đ1 và H bán số lô, số đề cho nhiều người chơi khác được số tiền 5.930.000đ (Năm triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng), người chơi không trúng thưởng.
- Ngày 23/12/2023 Đ1 và H bán số lô, số đề cho nhiều người chơi bạc được số tiền 8.651.000đ (Tám triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn đồng), người chơi không trúng thưởng.
- Ngày 24/12/2023 Đ1 và H bán số lô, số đề cho Trịnh Văn T1 và nhiều người chơi khác được số tiền 6.979.000đ, T1 trúng thưởng 24.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 30.979.000đ (Ba mươi triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn đồng);
- Ngày 25/12/2023 Đ1 và H bán số lô, số đề cho Trịnh Văn T1 cùng 04 người khác được số tiền 8.379.000đ, T1 trúng thưởng 12.000.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 20.379.000₫ (Hai mươi triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng);
- Ngày 27/12/2023 Đ1 và H bán số lô cho Trịnh Văn T1 và 01 người chơi khác số tiền 7.820.000đ. Ngoài ra, Nông Thị H bán số lô cho Nguyễn Bá T3 số tiền 1.120.000đ, T3 trúng thưởng được số tiền 5.200.000đ; Bán số lô, số đề cho Bùi Đức Q số tiền 6.480.000đ, Q trúng thưởng số tiền 3.200.000đ; H bán số lô, số đề cho Lại Minh C2 số tiền 1.930.000đ, chuyển trúng thưởng số tiền 3.200.000đ; H còn bán số lô, số đề cho 06 người chơi khác được số tiền 8.500.000đ, trả thưởng số tiền19.880.000đ. Tổng số tiền đánh bạc được xác định là 57.330.000 đ(Năm mươi bảy triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Như vậy, tổng số tiền tổ chức đánh bạc của Nông Thị H là 207.846.000₫ (Hai trăm linh bảy triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), trong đó: Số tiền H bán số lô, số đề được là 93.566.000 đồng, H đã trả thưởng 120.280.000đ (Một trăm hai mươi triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), H không có thu lợi bất chính (Thua cược).
Số tiền Trịnh Thị Đ1 đã bán số lô, số đề cho những người chơi là 67.225.000₫ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), trong đó có 02 ngày Đ1 bán số lô, số đề có số tiền trên 20.000.000đồng, Đ1 đã thu lợi bất chính số tiền 908.000 đồng.
Quá trình đánh bạc, Trịnh Văn T1 đã thu lợi bất chính số tiền 41.900.000₫ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Bá T3 thu lợi bất chính số tiền 4.080.000đ (bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); Lại Minh C2 thu lợi bất chính số tiền 1.270.000đ (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng); Bùi Đức Q thua bạc nên không có thu lợi bất chính.
Hành vi của Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc; Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc.
Tại Bản Cáo trạng số 23/CTr-VKSCB-P2 ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nhận định hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của các bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nông Thị H từ 70 đến 80 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Trịnh Thị Đ1 từ 60 đến 70 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trịnh Văn T1 từ 50 đến 60 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 mỗi bị cáo từ 20 đến 25 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 06 bị cáo.
Truy thu số tiền cáo bị cáo thu lợi bất chính do tổ chức đánh bạc và đánh bạc mà có để nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: Trịnh Thị Đ1 số tiền: 908.000đ; Trịnh Văn T1 số tiền: 41.900.000đ; Nguyễn Bá T3 số tiền: 4.080.000đ; Lại Minh C2 số tiền: 1.270.000₫,
Tịch thu số tiền 3.900.000đ thu giữ tại nhà Nông Thị Huệ có liên quan đến hành vi phạm tội để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu phát mại toàn bộ 07 (Bảy) điện thoại di động của các bị cáo dùng vào việc phạm tội để nộp ngân sách Nhà nước; Trả lại bị cáo Trịnh Thị Đ1 01 số tiết kiệm mang tên Trịnh Thị Đ1 vì không liên quan.
Về án phí: Bị cáo Nông Thị H là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định về án phí, lệ phí tòa án; Các bị cáo Đ1, T1, T3, Q, C2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Nông Thị H trình bày luận cứ:
Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Nông Thị H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo H có ông ngoại là Ma Hoàng T8 và bà ngoại Hoàng Thị T9 được Nhà nước tặng Huân chương hạng ba nên đề nghị áp dụng điểm s và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị giảm hình phạt mức thấp nhất là 70 triệu đồng cho bị cáo H; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Bị cáo H là người dân tộc thiểu số và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo H.
Bị cáo Nông Thị H nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung, không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;
Các bị cáo Đ1, T1, Q, T3, C2 đều nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bổ sung, không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền mức thấp nhất Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1, Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 tại phiên tòa đều phù hợp với bản tự khai, biên bản ghi lời khai các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu giữ được trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tranh luận công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ chứng minh:
Từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 27/12/2023, Nông Thị H đã tổ chức cho nhiều người đánh bạc với số tiền là 207.846.000₫ (Hai trăm linh bảy triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), trong đó Trịnh Thị Đ1 đã giúp sức cho Nông Thị H bán số lô, số đề cho người chơi bạc với số tiền 67.225.000đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), cụ thể: Trịnh Văn T1 đã 10 lần đánh bạc với tổng số tiền 134.100.000 đồng (Số tiền cược 46.100.000đ; số tiền trúng thưởng 88.000.000₫); Nguyễn Bá T3 01 lần số tiền 6.320.000 đồng; Bùi Đức Q 01 lần số tiền 9.680.000 đồng, Lại Minh C2 01 lần số tiền 5.130.000 đồng và một số người chơi khác. Quá trình nhận cá cược, Nông Thị H đã thua cược. Trịnh Thị Đ1 thu lợi bất chính 908.000đ (Chín trăm linh tám nghìn đồng), Trịnh Văn T1 thu lợi bất chính số tiền 41.900.000đ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Bá T3 thu lợi bất chính 4.080.000₫ (Bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng), Lại Minh C2 thu lợi bất chính 1.270.000đ (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Trong đó Nông Thị H và Trịnh Thị Đ1 đã có hành vi tổ chức đánh bạc nhiều lần, (có 02 lần có số tiền trên 20 triệu đồng).
Hành vi của các bị cáo Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức đánh bạc", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 đã cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
“Điều 321: Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2...."
Điều 322: Tội tổ chức đánh bạc
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)....
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên.
d)....
[3] Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này bị cáo Nông Thị H và bị cáo Trịnh Thị Đ1 là người giữ vai trò chính; các bị cáo thuộc trường hợp là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Cả 06 bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào;
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1, Trịnh Văn T1 phải chịu 01 tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
-
- Tình tiết giảm nhẹ:
- + Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- + Các bị cáo T1, Q, T3, C2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự về tội đánh bạc.
Bị cáo Nông Thị H có ông ngoại là Ma Hoàng T8 và bà ngoại Hoàng Thị T9 được Nhà nước tặng Huân chương hạng ba nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều phạm tội lần đầu; bị cáo H và Đ1 có hành vi tổ chức đánh bạc nhưng số tiền không lớn; các bị cáo Thái T10, Q, C2 đánh bạc với số tiền ít, do đó cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cho các bị cáo cũng đủ răn đe và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về mức hình phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[6] Các nhận định khác:
Quá trình điều tra, Nông Thị H khai nhận: Sau khi nhận được các số lô, số đề trái phép từ Trịnh Thị Đ1 và những người chơi bạc, H đều chuyển cho bà Hứa Thị T11 (mẹ đẻ của Nguyễn Xuân C4 là Tổng đại lý Công ty X tại thị trấn N, H, Cao Bằng). Quá trình điều tra, Hứa Thị T11 khai nhận do C4 bận công việc nên bà có trực tiếp giúp C4 nhận các bảng kê lô tô, xổ số của các đại lý mang đến nộp, trong đó có Nông Thị H nhưng không được nhận số lô, số đề trái phép với H và hàng ngày sau khi nhận bảng kê dự thưởng của các đại lý thì T11 tổng hợp lại vào máy và chuyển hết cho Công ty X.
Ngày 27/12/2023 Nông Thị H không nộp bảng kê xổ số cho T11, ngoài lời khai của Nông Thị H thì quá trình điều tra không thu thập được chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh việc H chuyển số lô, số đề trái phép cho Hứa Thị T11. Do đó, không có căn cứ xử lý Hứa Thị T11 trong vụ án này mà Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với các đối tượng: Trịnh Quốc B1, Nông Văn L1, Trường T21, Hoàng Thị Á, Lê Thanh T12, Lý Văn H2, Nguyễn Văn T13, Lưu Ngọc T14, Nguyễn Tiến T15, Nguyễn Thành Đ2, Đàm Trọng T16, Nguyễn Văn D1, Hoàng Thị H3, Lưu Bá S, Trương Ngọc T17, La Văn N2, Hoàng Thị T18 là những người được mua số lô, số đề trái phép với Nông Thị H và Trịnh Thị Đ1. Tuy nhiên, đều có số tiền dưới 5.000.000 đồng. Căn cứ kết quả xác minh cho thấy các đối tượng trên đều chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hay tổ chức đánh bạc nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ.
Đối với Triệu Văn T19, Hà Quốc H4, Nguyễn Văn T20, quá trình điều tra khai nhận vì nhà Trịnh Thị Đ1 bán hàng tạp hóa, các đối tượng có đến mua hàng và có nợ tiền hàng nhưng không được mua số lô, số đề với Đ1. Quá trình điều tra thu được quyển số có tên các đối tượng trên nhưng chỉ ghi số tiền, không ghi số lô, số đề cụ thể nên không đủ căn cứ xem xét xử lý các đối tượng này. Ngoài ra, cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi vi phạm của các đối tượng trên nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án.
Đối với những tài khoản Zalo “Trái tim băng giá”, “Dương P2”, “Touyen Le”, “Chấtmlostmlhy”, “Thúy La”, “Hoàng D2” do không xác định được số điện thoại và nhân thân của các số tài khoản trên nên không có căn cứ mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng của các bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội sẽ tịch thu phát mại lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước; vật chứng, tài sản không liên quan sẽ trả lại cho các bị cáo.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Nông Thị H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo còn lại phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
1. Về tội danh:
Các bị cáo Nông Thị H, Trịnh Thị Đ1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 phạm tội “Đánh bạc”. -
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nông Thị H 70.000.000₫, (Bảy mươi triệu đồng chẵn) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Thị Đ1 65.000.000đ, (Sáu mươi lăm triệu đồng chẵn) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Văn T1 50.000.000đ, (Năm mươi lăm triệu đồng chẵn) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Bá T3; Bùi Đức Q; Lại Minh C2 mỗi bị cáo 20.000.000₫, (Hai mươi triệu đồng chẵn) để nộp ngân sách nhà Nước.
-
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:- - Tịch thu số tiền Việt Nam đồng: 3.900.000,₫ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng), tiền vật chứng của vụ án “Tổ chức đánh bạc và đánh bạc xảy ra ngày 27/12/2023" thu giữ của Nông Thị H. Số tiền trên đã được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại K Chi nhánh tỉnh C theo Ủy nhiệm chỉ ngày 30/5/2024.
-
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 07 (bảy) điện thoại di động:
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi "02 điện thoại di động (01 điện thoại IPHONE và 01 điện thoại SAMSUNG của Trịnh Thị Đ1", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C,
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi "Điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO của Nông Thị H", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại của Trịnh Văn T1, nhãn hiệu IPHONE", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại SAMSUNG của Bùi Đức Q”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại OPPO màu trắng của Nguyễn Bá T3", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C;
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại IPHONE của Lại Minh C2", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C.
- - Truy thu số tiền các bị cáo thu lợi bất chính do tổ chức đánh bạc và đánh bạc mà có để nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau: Trịnh Thị Đ1 số tiền: 908.000₫ (Chín trăm linh tám nghìn đồng); Trịnh Văn T1 số tiền: 41.900.000₫ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Bá T3 số tiền: 4.080.000₫ (Bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); Lại Minh C2 số tiền: 1.270.000₫ (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Trả lại cho bị cáo Trịnh Thị Đ1 01 (một) sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AC00039132948 mang tên Trịnh Thị Đ1;
-
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo Trịnh Thị Đ1, Trịnh Văn T1, Nguyễn Bá T3, Bùi Đức Q, Lại Minh C2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200,000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, bị cáo Nông Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
-
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Thụ |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 11 năm 2023 đến ngày 27/12/2023, Nông Thị H đã tổ chức cho nhiều người đánh bạc với số tiền là 207.846.000đ (Hai trăm linh bảy triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), trong đó Trịnh Thị Đ1 đã giúp sức cho Nông Thị H bán số lô, số đề cho người chơi bạc với số tiền 67.225.000đ (Sáu mươi bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), cụ thể: Trịnh Văn T1 đã 10 lần đánh bạc với tổng số tiền 134.100.000 đồng (Số tiền cược 46.100.000đ; số tiền trúng thưởng 88.000.000đ); Nguyễn Bá T3 01 lần số tiền 6.320.000 đồng; Bùi Đức Q 01 lần số tiền 9.680.000 đồng, Lại Minh C2 01 lần số tiền 5.130.000 đồng và một số người chơi khác. Quá trình nhận cá cược, Nông Thị H đã thua cược. Trịnh Thị Đ1 thu lợi bất chính 908.000đ (Chín trăm linh tám nghìn đồng), Trịnh Văn T1 thu lợi bất chính số tiền 41.900.000đ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Bá T3 thu lợi bất chính 4.080.000đ (Bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng), Lại Minh C2 thu lợi bất chính 1.270.000đ (Một triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Trong đó Nông Thị H và Trịnh Thị Đ1 đã có hành vi tổ chức đánh bạc nhiều lần, (có 02 lần có số tiền trên 20 triệu đồng).
