Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày: 10-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kim Duy- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 05 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/HSST ngày 02/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 12/04/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/ QĐ- HPT ngày 26/04/2024 đối với bị cáo:

Trần Quang H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1997; Tại: tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: ấp H, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P: Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/12/2023 (có mặt).

Bị hại: Bà Lê Thị Hồng Thủy T1; sinh năm 2000; Địa chỉ: 3 P. Phường G, quận G,Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn P1, sinh năm 1991; Địa chỉ: F P, phường G, quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 30/10/2023, chị Lê Thị Hồng Thủy T1 (Sinh năm: 2000; HKTT: Số C đường P, Phường A, quận B; Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số H đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đang làm việc tại nhà sách F, địa chỉ: Số C đường P, Phường E quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm việc, chị Lê Thị Hồng Thủy T1 để một điện thoại di động Iphone 14 ProMax, màu trắng, dung lượng 128GB trên kệ sách B trong nhà sách rồi tập trung làm việc. Lúc này, Trần Quang H đến nhà sách để đọc sách. Trong lúc đọc sách, H xoay người thì tay phải đụng vào chồng sách làm chiếc điện thoại di động Iphone 14 ProMax, màu trắng của chị Lê Thị Hồng Thủy T1 rơi vào kẻ giữa hai chồng sách. Thấy vậy, Trần Quang H nảy sinh ý định trộm cắp chiếm đoạt chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Trần Quang H quan sát không thấy ai nên đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào túi áo khoác đi ra quầy gửi đồ rồi lấy túi đeo chéo bằng da màu đen mà Trần Quang H đã gửi trước đó. Sau khi lấy túi xách, Trần Quang H bỏ chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào túi đeo chéo rồi nhanh chóng rời đi. Khoảng 03 phút sau, chị Lê Thị Hồng Thủy T1 quay lại lấy điện thoại thì phát hiện điện thoại đã bị mất. Chị Lê Thị Hồng Thủy T1 báo cho chị Đồng Thị Kim T2 (Sinh năm: 2001; HKTT: KP2 B, Thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở: Số A đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) là quản lý nhà sách biết và xem lại camera thì phát hiện Trần Quang H là người thường đến nhà sách đọc sách đã lấy trộm chiếc điện thoại của chị Lê Thị Hồng Thủy T1, nhưng chị Lê Thị Hồng Thủy T1 không đến Công an trình báo sự việc.

Sau khi lấy trộm được điện thoại, Trần Quang H đi bộ đến cửa hàng điện thoại di động Huỳnh Phúc M, địa chỉ: Số F đường P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Huỳnh Văn P1 (Sinh năm: 1991; HKTT: Thôn B, T, C, Gia Lai) là chủ cửa hàng. Tại đây, Trần Quang H nói điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng không mở được khóa màn hình nên muốn bán thì Huỳnh Văn P1 xem điện thoại. Khi xem điện thoại thấy bị khóa, Huỳnh Văn P1 hỏi Trần Quang H mật khẩu màn hình và mật khẩu tài khoản icloud thì Trần Quang H nói quên mật khẩu màn hình và tài khoản icloud nên mới bán thì Huỳnh Văn P1 đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng. Lúc này, Huỳnh Văn P1 đưa cho Trần Quang H số tiền 3.500.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản đến số tài khoản Ngân hàng A số 1430107 của Trần Quang H số tiền 1.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán điện thoại Trần Quang H đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 07/12/2023, Trần Quang H đang đi bộ trên đường H, Phường I, quận P thì bạn của chị Lê Thị Hồng Thủy T1 nhìn thấy rồi thông báo cho chị Lê Thị Hồng Thủy T1 và chồng chị Lê Thị Hồng Thủy T1 tên là Huỳnh Trần Minh T3 (Sinh năm: 1991; HKTT: Số A đường N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ chí Minh) biết, nên anh Huỳnh Trần Minh T3 đã đưa Trần Quang H đến Công an P2, quận P trình báo sự việc. Tại đây, Trần Quang H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và chỉ dẫn Công an P2, quận P đến cửa hàng điện thoại Huỳnh Phúc M thu hồi chiếc điện thoại của chị Lê Thị Hồng Thủy T1 mà Trần Quang H đã bán vào ngày 30/10/2023. Nhận thấy vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Công an quận G nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Trần Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và Trần Quang H cho biết thêm: khi Trần Quang H bán điện thoại cho anh Huỳnh Văn P1 là chủ cửa hàng điện thoại di động Huỳnh Phúc M, địa chỉ: Số F P, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì Trần Quang H không nói cho Huỳnh Văn P1 biết nguồn gốc điện thoại do Trần Quang H phạm tội mà có. Khi được Huỳnh Văn P1 hỏi về mật khẩu màn hình và tài khoản I thì Trần Quang H nói đã quên nên mới bán xác điện thoại.

Tiến hành cho Trần Quang H và Huỳnh Văn P1 đối chất thì lời khai của Trần Quang H và Huỳnh Văn P1 vẫn giữ nguyên quan điểm và phú hợp với nội dung trên.

Tiến hành cho Huỳnh Văn P1 nhận dạng, kết quả: Huỳnh Văn P1 xác định Trần Quang H chính là người đã bán cho P1 chiếc điện thoại Iphone 14 ProMax, màu trắng với giá 5.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra Huỳnh Văn P1 đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 249/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp quận Ủy ban nhân dân quận G kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá là 17.666.667 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 ProMax, màu trắng (đã trả lại chị Lê Thị Hồng Thủy T1).
  • - 01 (một) áo khoác màu đen có chữ howsaigon established 2015 (thu của Trần Quang H);
  • - 01 (một) túi đeo chéo bằng da màu đen, có chữ sofia (thu của Trần Quang H).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 24/03/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • - Xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen có chữ howsaigon established 2015 và một túi đeo chéo bằng da màu đen, có chữ sofia do bị cáo không nhận lại.
  • - Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Trần Quang H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của các bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, bị cáo sẵn sàng phạm tội để có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Tài sản do bị cáo trộm cắp là chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu trắng qua định giá có giá trị 17.666.667 đồng, nên Viện kiểm sát quận G truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, Do đó cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do bị cáo không có nơi cư trú ổn định, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, tài sản bị cáo trộm cắp được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối với người liên quan là ông Huỳnh Văn P1 khi mua chiếc điện thoại mà bị cáo đem tới bán không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý ông P1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đối với số tiền 5.000.000 đồng là tiền mua điện của bị cáo H, do ông P1 không yêu cầu bị cáo H bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 áo khoác màu đen có chữ howsaigon established 2015 và một túi đeo chéo bằng da màu đen, có chữ sofia là tài sản riêng của bị cáo, nhưng bị cáo không lại, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Quang H 09(chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính kể từ ngày 09/12/2023.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen có chữ howsaigon established 2015 và một túi đeo chéo bằng da màu đen, có chữ sofia.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 50/PNK ngày 05/03/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng .

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger