Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 95/2024/DS -ST

Ngày: 09 - 8 - 2024

(V/v: Tranh chấp hợp đồng

sử dụng thẻ tín dụng)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Đô.
    2. Bà Lê Thị Kiều Thu.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 175/2024/TLST-DS ngày 03/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 474/2024/QĐXXST-DS ngày 05/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 524/2024/QĐST-DS ngày 22/7/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.
  • Địa chỉ trụ sở: 266 – 268, N, phường H, Quận C, Tp .
  • Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thái H, chuyên viên quản lý nợ.
  • - Bị đơn: Ông Lê Xuân N, sinh năm: 1967.
  • Nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt đại diện nguyên đơn, vắng mặt bị đơn ông Lê Xuân N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/ Đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn ông Nguyễn Thái H trình bày:

Ngày 05/08/2022, Ông Lê Xuân N có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng) đối với số thẻ 211251 - 1207; 211251 – 2842 và 472074 - 6849 theo các nội dung như sau: Hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng, Mục đích: Tiêu dùng, Lãi suất: 2,6%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Lê Xuân N đã thực hiện giao dịch thẻ với số thẻ (số thẻ 472074 - 6849) tổng số tiền là 30.632.900 đồng, phí và lãi phát sinh là 15.805.259 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.933.036 đồng, dự nợ tính đến ngày 09/8/2024 là 42.505.123 đồng (trong đó gốc là 35.121.875 đồng và lãi quá hạn là 7.383.248 đồng). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngoài ra, ông N còn khoản vay tiêu dùng thẻ (số thẻ 211251 – 2842) là 24.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp), phí và lãi phát sinh là 15.805.259 đồng, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 18.112.000 đồng dư nợ của khoản vay này là 14.008.968 đồng (trong đó gốc là 11.760.000 đồng và lãi quá hạn là 2.248.968 đồng). Khoản vay tiêu dùng thẻ (số thẻ 211251-1207) là 12.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp), phí và lãi phát sinh là 3.843.082 đồng, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.504.000 đồng dư nợ của khoản vay này là 12.339.082 đồng (trong đó gốc là 10.160.000 đồng và lãi quá hạn là 2.179.082 đồng).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Lê Xuân N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Lê Xuân N vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 10/03/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ số 472074 - 6849 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 35.121.875 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4,149%/tháng (= 2,766%/tháng x 150%) (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngày 25/02/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ số 211251 - 1207; 211251-2842 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 21.920.000 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 3,9%/tháng (= 2,6%/tháng x 150%) (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Như vậy, tính đến ngày 09/8/2024, ông Lê Xuân N còn nợ ngân hàng số tiền là 68.853.173 đồng, trong đó nợ gốc 57.041.875 đồng, nợ lãi 11.811.298 đồng.

Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu ông Lê Xuân N có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên cầu ông N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S1 Tòa giải quyết

1. Buộc Ông Lê Xuân N phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 68.853.173 đồng, trong đó nợ gốc 57.041.875 đồng, nợ lãi 11.811.298 đồng.

2. Ông Lê Xuân N có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 10/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.

3. Bị đơn phải chịu tất cả án phí và các chi phí liên quan khác.

*Bị đơn ông Lê Xuân N có hộ khẩu thường trú tại khu phố B, phường P, thành phố P, do ông N thường xuyên vắng mặt tại địa phương nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (nguyên đơn) đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo qui định của pháp luật. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ông Lê Xuân N có hộ khẩu thường trú tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Lê Xuân N vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Xuân N theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp nhận thấy:

Vào ngày 05/8/2022, ông Lê Xuân N có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) đối với số thẻ 211251 -1207; 211251 -2842 và 472074 – 6849, theo các nội dung như sau: Hạn mức sử dụng thẻ: 50.000.000 đồng, Mục đích: tiêu dùng, Lãi suất: 2.6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Lê Xuân N đã thực hiện giao dịch thẻ với số thẻ (số thẻ 472074 - 6849) tổng số tiền là 30.632.900 đồng, phí và lãi phát sinh là 15.805.259 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.933.036 đồng, dự nợ tính đến ngày 09/8/2024 là 42.505.123 đồng (trong đó gốc là 35.121.875 đồng và lãi quá hạn là 7.383.248 đồng). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngoài ra, ông N còn khoản vay tiêu dùng thẻ (số thẻ 211251 – 2842) là 24.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp), phí và lãi phát sinh là 15.805.259 đồng, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 18.112.000 đồng dư nợ của khoản vay này là 14.008.968 đồng (trong đó gốc là 11.760.000 đồng và lãi quá hạn là 2.248.968 đồng). Khoản vay tiêu dùng thẻ (số thẻ 211251-1207) là 12.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp), phí và lãi phát sinh là 3.843.082 đồng, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 3.504.000 đồng dư nợ của khoản vay này là 12.339.082 đồng (trong đó gốc là 10.160.000 đồng và lãi quá hạn là 2.179.082 đồng).

Do ông Lê Xuân N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 25/02/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ số 211251 - 1207; 211251-2842 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 21.920.000 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 3,9%/tháng (= 2,6%/tháng x 150%) (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và ngày 10/03/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ số 472074 - 6849 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 35.121.875 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4,149%/tháng (= 2,766%/tháng x 150%) (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Như vậy, tính đến ngày 09/8/2024, ông N chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 68.853.173 đồng, trong đó tiền gốc là 57.041.875 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 09/8/2024 là 11.811.298 đồng. Trong đó tiền gốc số thẻ 211251 – 1207 là 10.160.000 đồng, tiền lãi là 2.179.082 đồng; tiền gốc số thẻ 211251-2842 là 11.760.000 đồng, tiền lãi là 2.248.968 đồng; tiền gốc số thẻ 472074 – 6849 là 35.121.875 đồng, tiền lãi là 7.383.248 đồng.

Xét thấy, ông N đã ký vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng vào ngày 22/6/2022, tại phần cam kết của Giấy đề nghị ông N đã xác nhận ông đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi điều khoản và điều kiện của thẻ tín dụng, ràng buộc về mặt pháp lý giữa ông với Ngân hàng đơn vị phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ông chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng được cấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm hợp đồng quy định tại mục 2, mục 18, mục 19, mục 23 và mục 24 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kèm theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng vào ngày 22/6/2022 nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc còn lại là 57.041.875 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 09/8/2024 là 11.811/298 đồng và tiền lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 10/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.

Đây là việc vay tiền của tổ chức tín dụng nên lãi suất được áp dụng theo hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết là đúng theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

  • - Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự;
  • - Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;
  • - Luật ngân hàng N1;
  • - Điểm b khoản 01 Điều 24, khoản 02 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật thi hành án dân sự.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Buộc ông Lê Xuân N phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 68.853.173 đồng, trong đó tiền gốc là 57.041.875 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 09/8/2024 là 11.811.298 đồng (Trong đó Thẻ 211251 – 1207 là 12.339.082 đồng; Thẻ 211251-2842 là 14.008.968 đồng; Thẻ 472074 – 6849 là 42.505.123 đồng) và tiền lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 10/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22/6/2022 kèm theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S.

3/Về án phí: ông Lê Xuân N phải nộp 3.443.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.443.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001511 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Án xử công khai có mặt đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/8/2024), của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS -ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 95/2024/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Buộc ông Lê Xuân N phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 68.853.173 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger