Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án sơ thẩm số: 95/2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Việt

Ông Trần Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa:

Bà Đào Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TL-ST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/HPT-QĐ ngày 21/6/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 56/2024/TB-TA ngày 25/7/2024, đối với bị cáo:

Phan Thị N, sinh năm 1970 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn T (nay là thôn V), xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Ngọc L (đã chết) và bà Phạm Thị N1 (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; có chồng là Lương Văn T, sinh năm 1968 (đã ly hôn năm 2012); có 02 (hai) người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tại Bản án số 29/HSST ngày 14/4/2017.

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Người những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  • - Bà Nguyễn Thị Ánh N2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
  • - Bà Phan Thị Việt K, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Ngày 02/11/2023, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B phát hiện ra đường dây lô đề nên đã phối hợp với các lực lượng thuộc Công an huyện C tiến hành bắt giữ. Sau đó đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Đ và 13 bị can khác về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự để điều tra (gọi tắt là vụ án Nguyễn Văn Đ cùng đồng phạm).

Quá trình điều tra xác định:

Đối với bị can Nguyễn Văn Đ:

- Đồn bạn bạc với Hoàng Hữu K1, đối tượng P (không rõ lai lịch) về việc Đ bán số đề cho người khác sau đó chuyển cho K1 và “P” để cùng soi chiếu kết quả thắng thua với người chơi để tạo thành đường dây mua bán số đề nhiều đối tượng tham gia với số tiền bán đề là 90.190.000 đồng. Hành vi này của Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

- Sau khi bán số đề cho nhiều người, Đ chuyển một phần số đề cho K1, chuyển một phần cho “P” để cùng K1, “P” đánh bạc với người chơi đề; chuyển một phần số đề để đánh bạc với Trần Thị Phương H; giữ lại một phần để tự đối chiếu kết quả thắng thua với người chơi đề. Tổng số tiền Đ dùng để đánh bạc là 139.155.000 đồng. Hành vi này của Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B ra Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 01/KLĐT-CSHS đề nghị truy tố đối với vụ án Nguyễn Văn Đ cùng đồng phạm về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo quy định. Do hồ sơ vụ án có chứng cứ xác định một số đối tượng có tên “P”, “N”, “Kiều”... tham gia lô đề cùng với các bị can trong vụ án nhưng chưa làm rõ được nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01A/QĐ-CSHS-Đ3 ngày 02/01/2024 để tiếp tục truy xét, khi nào có cơ sở xử lý sau theo quy định.

Ngày 26/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Cáo trạng số 20/CT-VKSBRVT-P2 truy tố đối với Nguyễn Văn Đ về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và các bị cáo khác.

1.2. Hành vi đánh bạc của Phan Thị N:

Khi biết Nguyễn Văn Đ cùng đồng phạm bị bắt về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc, N khai bản thân sự bị Công an xử lý nên đã đến Thành phố Hồ Chí Minh cư trú. Ngày 20/02/2024, N đến Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đầu thú.

Quá trình điều tra xác định:

[1] Hành vi đánh bạc của Phan Thị N:

Ngày 02/11/2023, N sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0862543349 nhắn tin vào số điện thoại 0369.813.xxx của Đ để mua số đề, đánh bạc với Đ bằng các hình thức cá cược mua số đầu, số đuôi, xỉu chủ, bao lô, đá... có tỷ lệ trúng thưởng từ 70 đến 600 lần số tiền mua đề, dựa theo kết quả xổ số ngày 02/11/2023 của các tỉnh miền N: Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận và xổ số miền B. Tổng số tiền tính trên phơi đề của N là 27.331.000 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số trong ngày, N trúng đề được tổng cộng 7.150.000 đồng, gồm các số: số 56 bao lô 15.000 đồng Tây Ninh trúng được 1.050.000 đồng; các số 32, 02 bao lô 5.000 đồng 2 đài Tây Ninh, An Giang trúng được 1.050.000 đồng; số 62 bao lô 25.000 đồng đài Tây Ninh trúng được 1.750.000 đồng; số 62 bao lô 10.000 đồng đài Tây Ninh trúng được 700.000 đồng; các số 03, 09 đá 2.000 đồng đài Tây Ninh, trúng được 1.000.000 đồng; số 64 bao lô 20.000 đồng đài Tây Ninh trúng 1.400.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền N sử dụng đánh bạc với Đ được xác định là tổng số tiền trên phơi đề cộng với số tiền N trúng đề là 34.481.000 đồng.

[2] Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Ánh N2 và Phan Thị Việt K:

- Nguyễn Thị Ánh N2 ở gần nhà Phạm Thị D nên biết Đ bán số đề. Ngày 02/11/2023, N2 sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0355.765.379 nhắn tin vào số điện thoại 0976.886.xxx của Đ để mua số đề, nội dung: “39/79=00 xiên 5k”. Tổng số tiền mua đề là 1.080.000 đồng.

- Phan Thị Việt K là con gái của Phan Đình L1 nên biết L1 bán số đề. Ngày 02/11/2023, K sử dụng điện thoại di động gắn sim số 0972.882324 nhắn tin vào số điện thoại 0359.764.xxx của L1 để mua số đề, nội dung: “ĐĐ: 30-79=30”, “BL: 65-50; 365=10: 2đ”, “Xiên: 65-23=10”. Tổng số tiền K mua đề của L1 là 2.920.000 đồng. Kiều không trúng đề.

Do số tiền đánh bạc của N, K chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh đã chuyển nội dung vi phạm của N2, K đến Phòng CSHS Công an tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 với mức phạt tiền 350.000 đồng.

1.3. Vật chứng:

Quá trình điều tra, không tiến hành thu giữ đồ vật, tài liệu.

1.4. Các vấn đề khác có liên quan:

Đối với đối tượng “P”, sử dụng tài khoản Telegram được đăng ký từ số điện thoại 0936.543.xxx (được tách trong Quyết định tách vụ án hình sự số 01A/QĐ-CSHS-Đ3 ngày 02/01/2024), Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị Công ty D1 khu vực 8 cung cấp thông tin cá nhân sử dụng số điện thoại 0936.543.xxx để điều tra làm rõ về hành vi của đối tượng “P”, nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của đối tượng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Tại cáo trạng số 65/CT-VKSBRVT-P2 ngày 15 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Phan Thị N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa:

3.1. Trong bản luận tội tại đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thị N số tiền từ 40 triệu đến 50 triệu đồng.

3.2. Bị cáo Phan Thị N không tranh luận, bào chữa bổ sung.

4. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và diễn lượt áp dụng:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Ngày 02/11/2023, tại huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Phan Thị N có hành vi nhắn tin mua số đề để đánh bạc với Nguyễn Văn Đ với số tiền mua đề là 27.331.000 đồng; kết quả N trúng đề được 7.150.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N dùng để đánh bạc với Đ là 34.481.000 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo Phan Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo xâm phạm tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn thu lợi bất chính mà cố ý vi phạm. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tinh thần đạo, khoản hồng của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự ra đầu thú; hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo đã ly hôn chồng, một mình nuôi hai con, bản thân có nhiều bệnh tật nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Năm 2017 bị cáo bị xử phạt 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích đã lâu, tính đến nay

được 07 năm; bị cáo đã chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân; tính chất mức độ của lần phạm tội này được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân lao động; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, không tiến hành thu giữ đồ vật, tài liệu.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phan Thị N 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng).

2. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Phan Thị N nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - T H A N S tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Hồ sơ, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về đánh bạc

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị N Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger