Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST

Ngày: 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang

2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Thị V

(Tên gọi khác: L), Sinh năm: 2001; Nơi sinh: Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thị xã L, Bình Thuận; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Con ông: Hoàng Văn H (Đã chết) và bà: Trần Thị L1; Chồng: Nguyễn Công Ý, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Nguyễn Thị Quỳnh M, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Khu phố G, phường B, thị xã L, Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 27/02/2024 Hoàng Thị V đưa con đến khu V ở khu phố C, phường P, thị xã L chơi. Lúc này chị Nguyễn Thị Quỳnh M cũng đưa con gái Đỗ Thị Kim N, sinh năm 2021 đến chơi tại đây, trên tay phải của cháu N có đeo 01 chiếc lắc vàng, loại 18k, chị M ngồi trong khu vui chơi nơi dành cho cha mẹ để trông nom cháu N tự chơi. Khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày, cháu N đi đến khu vực nơi V đang ngồi chơi cùng con của V, nhìn thấy cháu N đeo trên tay chiếc lắc vàng, quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên V nảy sinh ý định trộm cắp. V lén lút dùng tay tuột chiếc lắc ra khỏi tay cháu N rồi bỏ chiếc lắc vào giỏ xách mang theo và bế con đứng dậy đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm tài sản của cháu N, khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, V đến tiệm V1 thuộc khu D, phường P, thị xã L bán chiếc lắc trên với giá 2.418.000 đồng, số tiền sau khi bán vàng V đem về cất giấu vào tủ quần áo.

Nguồn gốc chiếc lắc vàng cháu N đeo là của chị Nguyễn Thị Quỳnh M (mẹ cháu N), chị M mua và mang cho cháu N để đi chơi. Bình thường chị M luôn cất, quản lý nhưng khi có dịp đi tiệc, đi chơi thì lấy ra mang cho cháu. Sau khi đi tiệc, đi chơi về chị M tháo vàng và tự cất giữ.

Khi đưa con gái ra về phát hiện chiếc lắc trên tay cháu bị mất nên xem lại Camera thì phát hiện Hoàng Thị V là người đã lấy trộm nên chị M đến Công an phường P trình báo sự việc. Hoàng Thị V đã khai nhận toàn bộ sự việc trộm cắp chiếc lắc đồng thời giao nộp số tiền 2.418.000 đồng bán chiếc lắc nói trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 29/KL-ĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 chiếc lắc xích ống bọng, vàng 18k (610), trọng lượng 6 phân 5,4 chỉ, có giá trị là: 3.800.000 đồng/chỉ x 6 phân 5,4 = 2.485.200 đồng.

Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã đến làm việc với ông Lữ Bội Đ (chủ tiệm vàng), ông Đ cho biết, không biết vàng V đem đến bán là tài sản trộm cắp nên sau khi mua chiếc lắc trên đã chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh thuê thợ gia công thành các kiểu trang sức khác để bán nên không thu hồi được.

Về phần dân sự: Chị Nguyễn Thị Quỳnh M đã đồng ý nhận số tiền 2.418.000 do Hoàng Thị V giao nộp và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 98/QĐ-VKS ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Hoàng Thị V, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Thị V và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị V phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Hoàng Thị V, mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

- Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị V khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 27/02/2024, tại khu V ở khu phố C, phường P, thị xã L, bị cáo Hoàng Thị V thấy cháu Đỗ Thị Kim N còn nhỏ và lợi dụng việc chị Nguyễn Thị Quỳnh M sơ hở trong việc quản lý tài sản là chiếc lắc vàng đang đeo trên tay cháu N nên bị cáo đã lén lút dùng tay tuột 01 chiếc lắc xích ống bọng, vàng 18k có giá trị là 2.485.200 đồng ra khỏi tay của cháu N rồi bỏ chiếc lắc vào giỏ xách của bị cáo và bế con đứng dậy đi ra ngoài.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị Quỳnh M, khi không thấy chị M ở gần cháu N, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Hoàng Thị V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; Bị cáo có nhân thân tốt; Tài sản trộm cắp không quá lớn, bị cáo đang nuôi con nhỏ (Con của bị cáo sinh năm 2023). Hơn nữa, khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương thì bị cáo không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà M đã nhận lại số tiền 2.418.000 đồng. Trong quá trình điều tra vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, xét đây là sự tự nguyện của bà M, nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xem xét giải quyết.

Đối với ông Lữ Bội Đ (chủ tiệm vàng), ông Đ không biết vàng bị cáo V đem đến bán là tài sản trộm cắp nên Cơ quan CSĐT công an thị xã L không xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị V, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Xử phạt: Hoàng Thị V 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 08/8/2024).

Giao Hoàng Thị V cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4] Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị V phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 95/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị V phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger