TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 95/2024/HS-ST
Ngày: 05-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thị Khang và bà Nguyễn Thị Hiền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: ông Trịnh Hải Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/HSST-QĐ ngày 23/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh D; tên gọi khác: Không;
Sinh ngày: 20/3/1989 tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: tổ D, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn C; con bà: Nguyễn Thị H; vợ: Đào Thị H1; sinh năm 1989, có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 04/01/2024 tạm giữ đến ngày 13/01/2024; hiện tại ngoại nơi cư trú – Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Lương Đại D1; sinh năm: 1981; Nơi cư trú: tổ D, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: nghề tự do; vắng mặt.
- Chị Chu Thị Phương T; sinh năm: 1990; Nơi cư trú: khu N, thị trấn B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Nghề tự do; vắng mặt.
- Anh Vũ Văn Đ; sinh năm: 1989; Nơi cư trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Nghề tự do; vắng mặt.
- Anh Hoàng Viết H2; sinh năm: 1988; Nơi cư trú: tổ F, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
(Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Trần Quang H3; sinh năm: 1988; Nơi cư trú: tổ G, khu G, phường C, thành phố C; vắng mặt.
- Chị Vũ Thị Huyền T1; sinh năm: 1993; Nơi cư trú: tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T2; sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Tổ F, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Bùi Ngọc Đ1; sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Tổ F, khu P, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Phạm Thanh T3; sinh năm: 1991; Nơi cư trú: tổ B, khu G, phường C, thành phố C; tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Chị Đào Thị H1; sinh năm: 1989; Nơi cư trú: tổ D, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc ổn định nên từ tháng 12 năm 2022, Nguyễn Mạnh D bắt đầu cho những người quen biết có nhu cầu vay tiền với lãi suất cao, bằng hình thức lãi nằm, trên cơ sở lòng tin. Cho vay lãi nằm là hình thức D cho người khác vay tiền, với lãi suất từ 104,3%/năm đến 182,5%/năm (gấp lãi suất theo quy định từ 5,5 lần đến 9,13 lần). Người vay có thể trả gốc cho D bất cứ khi nào, nhưng tiền lãi thì phải trả đầy đủ, đúng hạn đến khi trả hết tiền gốc.
Về cách thức chuyển tiền cho vay và thu lãi, D sử dụng số tài khoản 0388109999 của ngân hàng TMCP Q (MB) và ngân hàng TMCP Đ2 (B) mang tên Nguyễn Mạnh D giao dịch với người vay. Ngoài ra, trong thời gian vay, D có thể thu tiền lãi, tiền gốc bằng tiền mặt và D sử dụng số điện thoại 0388.109.xxx để liên lạc.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập được đủ căn cứ chứng minh: từ ngày 01/12/2022 đến ngày 08/12/2023, Nguyễn Mạnh D đã cho 04 người vay tiền lãi nặng với tổng số tiền là 1.660.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm sáu mươi triệu đồng), cụ thể:
- Từ 06/02/2023 đến ngày 09/6/2023, Nguyễn Mạnh D đã cho anh L Đại Dương vay 600.000.000 đồng, để kinh doanh, thu 126.750.000 đồng tiền lãi, thu lợi bất chính 99.818.494 đồng, cụ thể:
- - Ngày 06/2/2023, D chuyển khoản cho anh D1 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Đến ngày 23/02/2023 (18 ngày), anh D1 chuyển khoản trả hết tiền gốc và tiền lãi 4.500.000 đồng (18 ngày x 250.000 đồng/ngày). D thu lời bất chính 4.006.849 đồng.
- - Ngày 13/02/2023, D cho anh D1 vay 250.000.000 đồng, trong đó chuyển khoản 200.000.000 triệu và đưa tiền mặt 50.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm. Đến ngày 23/02/2023 (11 ngày), anh D1 chuyển khoản trả hết tiền gốc và tiền lãi là 8.250.000 đồng (11 ngày x 750.000 đồng/ngày). D thu lời bất chính 6.743.151 đồng.
- - Ngày 24/4/2023, D chuyển khoản cho anh D1 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm. Đến ngày 30/10/2023 (190 ngày), theo thỏa thuận anh D1 phải trả 47.500.000 đồng tiền lãi (190 ngày x 250.000 đồng/ngày). Do anh D1 không còn tiền, nên D chỉ lấy của anh D1 39.200.000 đồng tiền lãi và 50.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi còn thiếu là 8.300.000 đồng, D cho anh D1, nhưng không liên quan đến việc thỏa thuận lãi ban đầu. D thu lời bất chính 33.994.521 đồng.
- - Ngày 09/6/2023, D chuyển khoản cho anh D1 vay 250.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm. Đến ngày 30/10/2023 (144 ngày), theo thỏa thuận anh D1 phải trả 108.000.000 đồng tiền lãi (144 ngày x 750.000 đồng/ngày). Do anh D1 không còn tiền, nên D chỉ lấy của anh D1 74.800.000 đồng tiền lãi và 250.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi còn thiếu là 33.200.000 đồng, D cho anh D1, nhưng không liên quan đến việc thỏa thuận lãi ban đầu. Dũng T4 lời bất chính 55.073.973 đồng.
- Từ 10/12/2022 đến ngày 22/9/2023, Nguyễn Mạnh D đã cho chị Chu Thị Thương T5 vay 660.000.000 đồng, để làm ăn, thu 360.000.000 đồng tiền lãi, thu lợi bất chính 288.328.767 đồng, cụ thể:
- - Ngày 10/12/2022, D cho chị T5 vay 600.000.000 đồng, bằng tiền mặt, lãi suất tương đương 111,5%/năm, mỗi tháng chị T5 phải nộp 55.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 06/3/2023 (90 ngày), chị T5 đã trả tiền gốc 100.000.000 đồng và 165.000.000 đồng tiền lãi (chuyển khoản 78.500.000 đồng, đưa tiền mặt 86.500.000 đồng), còn nợ 500.000.000 đồng tiền gốc. D thu lời bất chính 135.410.959 đồng.
- - Ngày 06/3/2023, D và chị T5 thống nhất chuyển 500.000.000 đồng nợ gốc ở khoản vay ngày 10/12/2022, sang thành khoản vay mới, lãi suất tương đương 110,7%/năm, mỗi tháng chị T5 phải nộp 45.500.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 06/7/2023, chị T5 đã trả 400.000.000 đồng tiền gốc và 138.000.000 đồng tiền lãi (chuyển khoản 81.000.000 đồng, đưa tiền mặt 57.000.000 đồng), còn nợ 100.000.000 đồng tiền gốc. Số tiền lãi còn thiếu D cho chị T5, nhưng không liên quan đến thỏa thuận lãi ban đầu. D thu lời bất chính 105.123.288 đồng.
- - Ngày 06/7/2023, D và chị T5 thống nhất chuyển 100.000.000 đồng nợ gốc ở khoản vay ngày 06/3/2023, sang thành khoản vay mới, lãi suất tương đương 109,5%/năm, mỗi tháng chị T5 phải nộp 9.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 08/8/2023, chị T5 đã chuyển khoản trả 9.000.000 đồng tiền lãi, còn nợ 100.000.000 đồng tiền gốc. D thu lời bất chính 7.356.164 đồng.
- - Ngày 08/8/2023, D và chị T5 thống nhất chuyển 100.000.000 đồng nợ gốc ở khoản vay ngày 06/7/2023, sang thành khoản vay mới và chị T5 vay thêm 40.000.000 đồng, tổng số tiền D cho chị T5 vay là 140.000.000 đồng, lãi suất tương đương 104,3%/năm, mỗi tháng chị T5 phải nộp 12.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 27/10/2023, chị T5 chuyển khoản trả 12.000.000 đồng tiền lãi, còn nợ 140.000.000 đồng tiền gốc. D thu lời bất chính 9.698.630 đồng.
- - Ngày 22/9/2023, D và chị T5 thống nhất chuyển 140.000.000 đồng nợ gốc ở khoản vay ngày 08/8/2023, sang thành khoản vay mới và chị T5 vay thêm 20.000.000 đồng, tổng số tiền D cho chị T5 vay là 160.000.000 đồng, lãi suất tương đương 136,9%/năm, mỗi tháng chị T5 phải nộp 18.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 12/12/2023, chị T5 đã trả 100.000.000 đồng tiền gốc, bằng tiền mặt và chuyển khoản 36.000.000 đồng tiền lãi. Còn nợ 60.000.000 đồng tiền gốc. D thu lời bất chính 30.739.726 đồng.
- Ngày 25/12/2022, D cho anh Vũ Văn Đ vay 250.000.000 đồng, để kinh doanh, lãi suất tương đương 109,5%/năm, mỗi tháng anh Đ phải nộp 22.500.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 03/01/2024 (90 ngày), anh Đ đã trả 250.000.000 tiền gốc và nộp tiền lãi là 67.500.000 đồng, trong đó: chuyển khoản 180.000.000 đồng, đưa tiền mặt 137.500.000 đồng. D thu lời bất chính 55.171.233 đồng.
- Ngày 12/8/2023, D chuyển khoản cho anh Hoàng Viết H2 vay 150.000.000 đồng, để kinh doanh, lãi suất 4.500 đồng/1 triệu, 1 ngày, tương đương 164,3%/năm. Đến ngày 14/8/2023 (03 ngày), anh H2 đã trả hết tiền gốc 150.000.000 và chuyển khoản 2.000.000 đồng tiền lãi, còn thiếu 25.000 đồng tiền lãi, D cho anh H2, không liên quan đến thỏa thuận lãi ban đầu. D thu lời bất chính 1.753.425 đồng.
Như vậy tổng số tiền Nguyễn Mạnh D thu lợi bất chính là: 407.791.096 đồng (bốn trăm linh bảy triệu bảy trăm chín mốt nghìn không trăm chín sáu đồng).
Cơ quan CSĐT thu giữ của D 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, lắp sim số 0388.109.999, số IMEI : 356703857248081.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh D đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có việc làm, trong thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 12/2023 bị cáo đã cho những người quen gồm các anh Lương Đại D1, Vũ Văn Đ, Hoàng Viết H2 và chị Chu Thị Phương T vay với tổng số tiền 1.660.000.000 đồng và trả lãi suất cao, bị cáo cho vay tiền trên cơ sở lòng tin và đã thu lợi số tiền 407.791.096 đồng, quá trình cho vay bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc và tài khoản ngân hàng mang tên bị cáo để giao dịch với người vay tiền, trong đó anh Lương Đại D1 vay tổng số 600.000.000 đồng, chị Chu Thị Phương T vay tổng số 660.000.000 đồng, anh Vũ Văn Đ vay 250.000.000 đồng, anh Hoàng Viết H2 vay 150.000.000 đồng; việc bị cáo cho vay hưởng lãi cao không ai biết; toàn bộ số tiền vay bị cáo đã nhận lại từ người vay, bị cáo cũng đã trả lại anh D1, chị T, anh Đ, anh H2 số tiền lãi; tại phiên tòa bị cáo khai nhận bản Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan sai.
Lời khai nhận tội của bị cáo có nội dung phù hợp với lời khai và đơn đề nghị của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; anh Lương Đại D1 khai nhận vay của bị cáo tổng số 600.000.000 đồng đã được bị cáo trả 99.818.494 đồng tiền lãi; anh Vũ Văn Đ khai vay bị cáo 250.000.000 đồng đã được trả 55.171.233 đồng tiền lãi, chị Chu Thị Phương T khai vay bị cáo tổng số 660.000.000 đồng được bị cáo trả 288.328.767 đồng tiền lãi; anh Hoàng Viết H2 khai vay bị cáo 150.000.000 đồng được bị cáo trả 1.753.000 đồng tiền lãi. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có đề nghị gì khác.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng các anh Trần Quang H3, Nguyễn Văn T2, Bùi Ngọc Đ1, Phạm Thanh T3; chị Vũ Huyền T1 khai nhận được anh D1 nhờ chị chuyển tiền vào tài khoản của D để trả nợ nhưng chị không biết anh D1 vay tiền lãi suất cao, chị Đào Thị H1 khai nhận là vợ của bị cáo, chị được chứng kiến anh Lương Đại D1, chị Chu Thị Phương T, anh Vũ Văn Đ, anh Hoàng Viết H2 đến nhà vay tiền của D nhưng chị không biết việc D cho vay lãi suất cao.
Bản Cáo trạng số: 833/CT – VKS- CP ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 2,3 Điều 201, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Mạnh D từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường C, thành phố C giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Phạt bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước theo khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Áp dụng: Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax, là điện thoại bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội; chiếc sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Truy thu buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) là tiền bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và 102.958.904 đồng (một trăm linh hai triệu chín trăm năm mươi tám nghìn chín trăm linh bốn đồng) là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm.
Đối với số tiền thu lợi bất chính bị cáo D đã bồi thường trả lại anh Lương Đại D1 99.818.493 đồng, chị Chu Thị Phương T 288.328.767 đồng, anh Vũ Văn Đ 55.171.233 đồng, anh Hoàng Viết H2 1.753.425 đồng. Những người có quyền lợi liên quan đều không có đề nghị gì nên không đề cập.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh D khai nhận tội, bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh D đều khai nhận từ ngày 01/12/2022 đến ngày 08/12/2023, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo đã cho anh Lương Đại D1, anh Hoàng Viết H2, anh Vũ Văn Đ và chị Chu Thị Thương T5 vay lãi nặng với tổng số tiền là 1.660.000.000 đồng, lãi suất từ 104,3%/năm đến 182,5%/năm, thu lợi bất chính 407.791.096 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các anh Lương Đại D1, anh Hoàng Viết H2, anh Vũ Văn Đ, chị Chu Thị Thương T5, phù hợp với lời khai người làm chứng các anh Trần Quang H3, Nguyễn Văn T2, Bùi Ngọc Đ1, Phạm Thanh T3, các chị Vũ Huyền T1, Đào Thị H1, biên bản đầu thú, phù hợp với vật chứng thu giữ và nhiều tài liệu chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.
Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 01/12/2022 đến ngày 08/12/2023, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Mạnh D đã cho anh Lương Đại D1, anh Hoàng Viết H2, anh Vũ Văn Đ và chị Chu Thị Thương T5 vay lãi nặng với tổng số tiền là 1.660.000.000 đồng, lãi suất từ 104,3%/năm đến 182,5%/năm, thu lợi bất chính 407.791.096 đồng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Mạnh D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự“ theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Vậy việc truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng số 833/CT – VKS - CP ngày 03/6/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội, với các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo thực hiện làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, góp phần làm gia tăng loại tội phạm nguy hiểm khác, bị cáo biết được sự nghiêm cấm của pháp luật song do tham lam tư lợi nên trong thời gian từ 01/12//2022 đến ngày 08/12/2023 bị cáo đã cho các anh Lương Đại D1, Vũ Văn Đ, Hoàng Viết H2, chị Chu Thị Phương T vay tiền dưới hình thức giao dịch dân sự với 1.660.000.000 đồng với mức lãi suất vượt trên 5 lần mức 20% mà Bộ luật dân sự cho phép, bị cáo cho vay với mức lãi suất từ 104,3%/năm đến 182,5%/năm, nhằm thu lợi bất chính số tiền 552.275.000 đồng, thực tế bị cáo đã thu lợi bất chính 407.791.096 đồng. Trong đó có 06 lần bị cáo cho vay tiền với số tiền thu lợi bất chính trên ba mươi triệu đồng/lần, nên áp dụng tình tiết “Phạm tội nhiều lần” đối với bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi bị cáo thực hiện cần xử phạt nghiêm.
Song cần xét: bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra hối cải, khoản tiền thu lợi bất chính bị cáo đã hoàn trả bồi thường lại cho người vay tiền, ngoài ra bị cáo còn là con em của người có công với cách mạng, là lao động chính trong gia đình nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo 50.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 407.791.096 đồng là tiền thu lời bất chính do phạm pháp mà có bị cáo D đã bồi thường hoàn trả lại người vay tiền, những người vay tiền cũng không có đề nghị gì khác nên không đề cập.
Đối với số tiền ngày 06/02/2023, bị cáo cho anh L Đại Dương vay 50.000.000 đồng, đến ngày 13/02/2023, anh D1 chưa thanh toán lại tiếp tục vay thêm 250.000.000 đồng, ngày 23/02/2023 anh D1 thanh toán xong cả hai khoản vay. Ngày 24/4/2023 và ngày 09/6/2023, bị cáo tiếp tục cho anh D1 vay lãi nặng tổng số tiền 300.000.000 đồng, đến ngày 30/10/2023, anh D1 thanh toán xong khoản vay. Tại phiên tòa bị cáo trình bày đã sử dụng quay vòng vốn để cho anh D1 vay lại nên có xác định bị cáo sử dụng 300.000.000 đồng để quay vòng cho anh D1 vay.
Đối với việc ngày 10/12/2022 bị cáo cho chị Chu Thị Phương T vay số tiền 600.000.000 đồng; ngày 06/3/2023, chị T trả được 100.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ 500.000.000 đồng tiền gốc, ngày 06/3/2023 bị cáo và chị T thỏa thuận chuyển thành khoản vay mới với số tiền là 500.000.000 đồng. Ngày 06/7/2023, chị T trả được 400.000.000 đồng tiền gốc và thống nhất chuyển 100.000.00 đồng còn nợ thành khoản vay mới. Trong hai ngày 08/8/2023 và 22/9/2023, chị T chưa trả tiền gốc và vay thêm tổng số 60.000.000 đồng, đối với số tiền 60.000.000 đồng này, tại phiên tòa bị cáo khai nhận sử dụng số tiền chị T đã trả 500.000.000 đồng tiền gốc để quay vòng vốn nên xác định bị cáo sử dụng số tiền 600.000.000 đồng cho chị T vay.
Đối với việc bị cáo cho anh Đ vay 250.000.000 đồng ngày 25/12/2022 và cho anh H2 vay 150.000.000 đồng ngày 12/8/2022 là hai khoản cho vay độc lập không liên quan đến việc bị cáo có sử dụng vốn để quay vòng. Như vậy tổng số tiền bị cáo sử dụng cho anh D1, chị T, anh Đ và anh H2 vay là 1.300.000.000 đồng, đây là phương tiện phạm tội và số tiền lãi 102.958.904 đồng tương ứng với mức lãi suất 20%/năm nay đều truy thu buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo luật định.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng cung cấp thông tin các tài khoản đã giao dịch với hai số tài khoản 0388109999 của Ngân hàng TMCP Q (MB) và Ngân hàng TMCP Đ2 (B) mang tên Nguyễn Mạnh D đến nay chưa có kết quả, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau; Cơ quan điều tra đã thông báo tìm người vay tiền lãi nặng của bị cáo đến nay chưa có kết quả nên không đề cập.
Đối với bị cáo D còn cho anh Hoàng Viết H2 vay tiền lãi xuất 73% số tiền thu lợi bất chính là 1.753.425 đồng nhưng chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự nên không đề cập xử lý.
Từ các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2, 3 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Nguyễn Mạnh D2 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Mạnh D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu buộc bị cáo Nguyễn Mạnh D phải nộp lại 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) là phương tiện phạm tội và 102.958.905 đồng (một trăm linh hai triệu chín trăm năm mươi tám nghìn chín trăm linh bốn đồng) là tiền thu lợi bất chính nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, tối màu, màn hình có vết nứt (điện thoại thu của Nguyễn Mạnh D), điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 Chiếc sim thu giữ của Nguyễn Mạnh D.
Vật chứng thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số: 129/BB-THA ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh D phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
