Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày: 05/7/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE- TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng

Bà Trần Thị Kim Mỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 171/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1964;

Địa chỉ: G ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Bà Đoàn Thị Minh C, sinh năm 1990;

Địa chỉ: A ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966;

Địa chỉ: G ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

+ Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1965;

Địa chỉ: tổ B, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

(Ông S, bà C có mặt; bà T, bà Đ có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Vào năm 2017, ông có cho bà C vay số tiền 20.000.000 đồng, bà C đã trả xong số tiền này. Đến năm 2018, ông tiếp tục cho bà C vay số tiền 30.000.000 đồng. Chữ ký và chữ viết trong giấy mượn tiền ngày 22/10/2018 âm lịch (tức ngày 28/11/2018 dương lịch) là do bà C viết và ký. Ông chỉ ký tên tại mục giao tiền. Giấy mượn tiền này chỉ được lập thành 01 bản chính, ông đang giữ bản chính này. Khi giao số tiền 30.000.000 đồng có mặt ông, bà Đ và bà C, ngoài ra không còn ai khác. Trong giấy mượn tiền không ghi thời hạn vay, thực tế là các bên thỏa thuận bà C mượn trong thời hạn ngắn sẽ trả lại. Theo giấy mượn tiền thì không có ghi lãi suất, lâu lâu thì bà C có đưa tiền cho ông vài trăm nghìn để ông đóng tiền hụi, tổng số tiền bà C giao cho ông bao nhiêu thì ông không nhớ. Sau khi viết xong giấy mượn tiền, bà C đem giấy mượn tiền về nhà đưa cho bà T - là mẹ bà C ghi vào giấy mượn tiền là "Tôi là mẹ Huỳnh Thị T bảo lãnh con mượn số tiền, sẽ đôn đốc con tôi trả số tiền nêu trên".

Theo giấy mượn tiền 28/11/2018, bà C đã trả cho ông số tiền 15.000.000 đồng, như vậy bà C còn nợ lại ông 15.000.000 đồng. Ông đã nhiều lần yêu cầu bà C trả số tiền nêu trên nhưng bà C không trả, do đó ông có đơn kiện gửi cho Tổ hòa giải ấp P, xã P. Tại Biên bản hòa giải ngày 05/10/2023, ông đề nghị bà C trả số tiền 15.000.000 đồng, tuy nhiên do thấy bà C có thiện chí và được sự động viên của Tổ hòa giải nên ông mới đồng ý cho bà C trả số tiền 8.000.000 đồng, các bên thỏa thuận bà C có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 500.000 đồng/tháng cho đến khi trả hết nợ, thời điểm bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2024. Tuy nhiên, từ tháng 01/2024 đến nay, bà C chưa trả cho ông bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc bà C có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 15.000.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi. Ông không yêu cầu bà Huỳnh Thị T có nghĩa vụ liên đới cùng bà C trả số tiền nêu trên. Ông không còn yêu cầu nào khác.

Theo bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Đoàn Thị Minh C trình bày:

Bà thừa nhận có vay tiền của ông Nguyễn Văn S nhiều lần, trong đó có số tiền 20.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 24/02/2017 âm lịch và 30.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018 dương lịch. Chữ viết và chữ ký trong 02 giấy mượn tiền là của bà. Ông S cho bà vay lãi suất trung bình từ 5% đến 8%/tháng, có lúc 10%/tháng, lãi suất không có ghi trong giấy mượn tiền mà các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Việc bà đóng lãi cho ông S bằng tiền mặt, các bên không có làm giấy tờ. Đến nay, bà thừa nhận còn nợ ông S số tiền vay gốc 15.000.000 đồng. Cách đây 5, 6 tháng thì ông S có nhờ Tổ hòa giải ấp P, xã P hòa giải, tại biên bản hòa giải ngày 05/10/2023 thì ông S đồng ý để cho bà trả số tiền 8.000.000 đồng, mỗi tháng bà có nghĩa vụ trả

cho ông S số tiền 500.000 đồng cho đến khi hết nợ, thời điểm bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2024. Sau đó, bà có đến nhà ông S để thực hiện theo thỏa thuận, tuy nhiên ông S không đồng ý để bà trả số tiền 8.000.000 đồng mà đề nghị bà mỗi tháng trả cho ông S số tiền 500.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền 15.000.000 đồng. Bà không đồng ý theo yêu cầu của ông S nên từ tháng 01/2024 đến nay bà chưa trả cho ông S bất kỳ khoản tiền nào. Nay, bà chỉ đồng ý trả cho ông S số tiền 8.000.000 đồng. Bà không còn yêu cầu nào khác.

Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà là vợ của ông S. Việc ông S cho bà C vay số tiền 30.000.000 đồng vào năm 2018 thì bà có biết, đây là tài sản riêng của ông S. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do lớn tuổi, bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.

Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T trình bày:

Bà C là con đẻ của bà, vợ chồng ông S và bà Đ là hàng xóm của bà. Theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018, có nội dung "tôi là mẹ Huỳnh Thị T bảo lãnh con mượn số tiền "T" sẽ đơn đốc con tôi trả số tiền trên". Chữ viết và chữ ký nội dung trên không phải do bà viết và ký. Việc vay mượn tiền giữa bà C và ông S đối với số tiền 30.000.000 đồng thì bà hoàn toàn không liên quan đến bà. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, ông Nguyễn Văn S khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Thị Minh C trả số tiền vay còn thiếu theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018, căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có

đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân cấp huyện. Bị đơn bà Đoàn Thị Minh C có nơi cư trú tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Bà Nguyễn Thị Đ và bà Huỳnh Thị T đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ và bà T theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về phạm vi khởi kiện: Đối với Giấy mượn tiền năm 2017, ông S cho rằng bà C đã xong và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với giấy mượn tiền năm 2017.

[2] Xét Giấy mượn tiền ngày 28/11/2018:

[2.1] Theo giấy mượn tiền, ông S cho bà C vay số tiền 30.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà C thừa nhận có vay của ông S số tiền nêu trên, chữ ký và chữ viết trong giấy mượn tiền là do bà viết và ký. Theo các biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, ông S thừa nhận bà C đã trả cho ông số tiền 15.000.000 đồng, số tiền bà C còn nợ lại là 15.000.000 đồng. Đồng thời, tại phiên tòa, bà C cũng thừa nhận đến nay bà còn nợ lại ông S số tiền vay gốc 15.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh.

[2.2] Mặc dù, bà C thừa nhận nợ ông S số tiền 15.000.000 đồng, tuy nhiên bà chỉ đồng ý trả cho ông S số tiền 8.000.000 đồng với lý do bà căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 05/10/2023 tại Nhà họp dân, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre với nội dung ông S đã đồng ý cho bà trả số tiền 8.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: bà C căn cứ vào biên bản hòa giải tại ấp, từ đó nay bà chỉ đồng ý trả cho ông S số tiền 8.000.000 đồng là không phù hợp, bởi lẽ trong biên bản hòa giải này có đoạn “ông S chốt bà C chỉ còn nợ 15 triệu nhưng đồng ý cho bà C 8 triệu đồng. Bà C xin 02 tháng nữa (tức tháng 12/2023) bà C mới tiền trả lại ông S – mỗi tháng ba C trả cho ông S 500.000 đồng, bắt đầu từ tháng 1 năm 2024. Cuộc hòa giải thành”, điều này cho thấy bà C cũng đồng ý với số tiền chốt nợ của ông S là 15.000.000 đồng chứ không phải là 8.000.000 đồng; bên cạnh đó, tại phiên tòa bà C thừa nhận đến nay chưa trả cho ông S bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến số tiền 8.000.000 đồng theo như biên bản hòa giải tại ấp. Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự như sau: "Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự". Căn cứ quy định nêu trên, xét thấy do bà C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo như thỏa thuận giữa bà

và ông C tại biên bản hòa giải ngày 05/10/2023 nên nay ông S khởi kiện buộc bà C có nghĩa vụ trả cho ông S số tiền 15.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018 là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.3] Về tiền lãi: Ông S không yêu cầu tính lãi của số tiền 15.000.000 đồng. Bà C cho rằng có đóng lãi cho ông S nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh theo yêu cầu của Tòa án, đồng thời bà C cũng không có đề nghị Tòa án xem xét phần tiền lãi đã đóng. Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét đến phần tiền lãi theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018.

[2.4] Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, ông S khởi kiện yêu cầu bà T có nghĩa vụ liên đới cùng bà C trả số tiền vay còn thiếu theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông S chỉ yêu cầu bà C trả tiền, không yêu cầu bà T cùng bà C liên đới trả tiền, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của ông S, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của ông S được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự có giá ngạch với số tiền là: 5% x 15.000.000 đồng = 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các điều 357, 463, 466, 468 Điều Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể như sau:

1.1. Buộc bà Đoàn Thị Minh C có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn S số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn S không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nêu trên.

Kể từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên

phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn S về việc không yêu cầu bà Huỳnh Thị T có nghĩa vụ liên đới cùng bà Đoàn Thị Minh C trả cho ông Nguyễn Văn S số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng theo giấy mượn tiền ngày 28/11/2018.

2. Về án phí: Bà Đoàn Thị Minh C có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.

Ông Nguyễn Văn S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004470 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn S và bà Đoàn Thị Minh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Huỳnh Thị T và bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - Các đương sự (4b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger