Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02-8-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Hữu Hạnh.
  2. Ông Nguyễn Sơn Tùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Dương Thế K, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp LB, xã LKB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Nguyễn Thị Kiều D1 (D2), sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp LT, xã LKB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 6 năm 2024, bản khai ngày 14 tháng 6 năm 2024 và biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 6 năm 2024 của nguyên đơn anh Dương Thế K trình bày: Vào năm 1998, nhờ người mai mối nên anh và chị Nguyễn Thị Kiều D1 cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LKB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2002. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng từ năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2003 cho đến nay. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều D1 vì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Đối với Dương Hữu N, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1999 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị Kiều D1 đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Dương Thế K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều D1; về nuôi con chung: Đối với con chung Dương Hữu N, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1999 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Anh Dương Thế K trình bày không có, còn chị Nguyễn Thị Kiều D1 không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2] Nguyên đơn anh Dương Thế K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều D1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Dương Thế K và chị Nguyễn Thị Kiều D1 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của anh Dương Thế K đối với chị Nguyễn Thị Kiều D1, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của anh Dương Thế K thì cuộc sống của anh và chị Nguyễn Thị Kiều D1 không hạnh phúc từ năm 2003 do bất đồng quan điểm, tình cảm không còn anh và chị D1 đã không còn chung sống từ năm 2003 cho đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của anh K và chị D1 hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của anh K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho anh Dương Thế K ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều D1.

[4] Về việc nuôi con chung: Đối với cháu Dương Hữu N, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1999 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, anh Dương Thế K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Dương Thế K cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn chị Nguyễn Thị Kiều D1 không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Thế K, cho ly hôn giữa anh Dương Thế K và chị Nguyễn Thị Kiều D1.

2. Về án phí sơ thẩm: Anh Dương Thế K chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006090 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - UBND X.LKB, H.HN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lương Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về ly hôn

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh K yêu cầu ly hôn với chị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger