|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK Bản án số:95/2025/HSST Ngày 29-10-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thúy Hoa
2. Ông Nguyễn Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Khang ÊBan- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo,
Tô T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27 tháng 6 năm 1998; tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Số A, thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; họ và tên cha: Tô Mưu (chết); họ và tên mẹ: Trần Thị C, sinh năm 1975. Gia đình bị cáo có ba anh, em. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 03.
Ngày 30 tháng 6 năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù, về tội Cướp giật tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ1 – Bộ C1, ngày 28 tháng 11 năm 2018 chấp hành xong hình phạt (chưa được xoá án tích).
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ1 – Bộ C1, ngày 12 tháng 9 năm 2021 chấp hành xong hình phạt (chưa được xoá án tích).
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/HS-ST. Chấp hành án tại Trại giam A – Bộ C1, ngày 08 tháng 3 năm 2025 chấp hành xong hình phạt (chưa được xoá án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 08 tháng 8 năm 2025 cho đến nay.
Nhân thân: Ngày 18 tháng 6 năm 2014, bị Công an huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo, về hành vi Trộm cắp tài sản, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
*Bị hại: Ông Nguyễn Lê Minh Q- sinh năm: 2003(Có mặt);
Địa chỉ: D đường B thôn H, phường T, tỉnh Đắk Lắk
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang L- sinh năm: 1999- Vắng mặt.
Địa chỉ: D N, xã Q, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Ta là người đã có tiền án về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 23 giờ ngày 29 tháng 3 năm 2025, Tô Ta mặc áo khoác màu đen, quần Jean màu xám, mang đôi dép sọc xanh trắng, đội mũ bảo hiểm màu đỏ, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu trắng biển kiểm soát 47AT-101.34, lưu thông đi từ nhà tại địa chỉ số A thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk theo tuyến đường số 2 thuộc xã Q đến xã C, tỉnh Đắk Lắk, sau đó di chuyển theo đường Q (đường H) hướng về khu vực Trung tâm ngã 6, tỉnh Đắk Lắk, để tìm kiếm nhà của những người dân có sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 00 giờ ngày 30 tháng 3 năm 2025, Tô T đi ngang qua một ngôi nhà xây cấp bốn của anh Nguyễn Lê Minh Q, sinh năm 2003, trú tại số D đường B, thôn H, phường T, tỉnh Đắk Lắk, thì qua ánh đèn điện chiếu sáng, Tô T quan sát thấy cửa cổng sân khóa, hàng rào bằng lưới B40, cửa chính mở hé. Lúc này, Tô T dựng xe mô tô trên ở phía trước nhà, trèo qua hàng rào lưới B40 vào khuôn viên nhà, đi đến cửa chính dùng tay mở cửa chính ra rồi lén lút đi vào phòng ngủ thứ hai (tính từ bên ngoài nhìn vào), thì thấy có 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng để trên đầu giường. Nên Tô T đã lấy chiếc điện thoại trên cất giấu vào trong túi quần mà Tô T đang mặc ở trên người. Tô Ta đi sang phòng ngủ thứ nhất (tính từ ngoài vào) gần cửa chính, thì thấy trên đầu giường có để 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, bên cạnh là anh Q đang nằm ngủ. Tô Ta lấy chiếc điện thoại trên cất giấu vào trong túi quần đang mặc, rồi tiếp tục mở tủ quần áo ra, thì thấy bên trong có để 01 (một) con heo bằng đất, nên Tô T đã lấy con heo đất trên đi ra ngoài, thì lúc này bị anh Q phát hiện, tri hô “Trộm, trộm!”. Nghe vậy, Tô T trèo qua hàng rào lưới B40 bỏ chạy ra bên ngoài đường, thì làm rơi bể vỡ con heo đất. Tô Ta lấy hết tiền bên trong con heo (gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau) cất giấu vào túi áo khoác, rồi điều khiển xe mô tô trên tẩu thoát chạy về nhà. Khi về đến nhà, Tô T kiểm đếm số tiền trong con heo đất được 3.000.000 đồng, rồi để 02 chiếc điện thoại hiệu Iphone nêu trên ở tủ quần áo và đi ngủ. Đến sáng ngày 30 tháng 3 năm 2025, Tô T lấy số tiền 3.000.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Do sợ bị Cơ quan Công an phát hiện, nên Tô T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47AT-101.34 đi đến nhà anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1999, trú tại số D đường N, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, gửi chiếc xe mô tô trên, thì anh L đồng ý. Nên, Tô T đã để chiếc xe mô tô lại, rồi đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi Tô T đang ở nhà tại địa chỉ trên, thì bị Công an xã H (nay là Công an phường T), tỉnh Đắk Lắk phối hợp cùng Công an xã Q (nay là Công an xã Q), tỉnh Đắk Lắk triệu tập Tô Ta về làm việc, thì Tô T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp 02 (hai) chiếc điện thoại di động có đặc điểm nêu trên.
* Hiện trường vụ án được xác định xảy ra tại nhà của Nguyễn Lê Minh Q, thuộc địa phận số D đường B, thôn H, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Hiện trường đã bị xáo trộn. Quá trình xác định, khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐDGTS ngày 24 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, kết luận:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB, số máy: MG8X3LL/A, đã qua sử dụng, thu hồi được, thời điểm ngày 30 tháng 3 năm 2025 trị giá 3.200.000 đồng
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, dung lượng 128GB, số máy: MT962LL/A, đã qua sử dụng, thu hồi được, thời điểm ngày 30 tháng 3 năm 2025 trị giá 10.000.000 đồng.
- - 01 (một) con heo bằng đất, màu đỏ, không rõ nhãn hiệu, chủng loại, kích thước, đã qua sử dụng (Tài sản chưa thu hồi được), thời điểm ngày 30 tháng 3 năm 2025. Hội đồng từ chối định giá.
Tại bản cáo trạng số: 252/CT-VKS-KV1 ngày 07/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Tô T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Tô T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 587, Điều 591 Bộ luật dân sự.
Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Quang L là người được bị cáo Tô T gửi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47AT–101.34. Tuy nhiên, khi nhận giữ chiếc xe mô tô trên, thì anh L không biết việc trước đó bị cáo Tô T đã sử dụng chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội và anh L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Tô Ta . Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L là có căn cứ.
Đối với bà Trần Thị C (là mẹ ruột của bị cáo Tô T). Là chủ sở hữu của căn nhà, mà bị cáo Tô T đã dùng để cất giấu các tài sản đã trộm cắp mà có. Tuy nhiên, khi bị cáo Tô T cất giấu các tài sản trên, thì bà C không biết và không đồng ý. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà C và căn nhà trên là có căn cứ.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB, số máy: MG8X3LL/A và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, dung lượng 128GB, số máy: MT962LL/A, đều đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định là các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Lê Minh Q. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho anh Q nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu trắng, số máy JK01E0440494, số khung RLHJK0103NZ205067, biển kiểm soát 47AT-101.34, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Tô Ta . Bị cáo Tô T đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc quần Jean, màu xám và 02 (hai) chiếc dép, đều có màu xanh sọc trắng, đều đã qua sử dụng, là trang phục mà Tô Ta mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Là các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Tô Ta . Nên đề nghị trả lại cho bị cáo Tô T, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
* Về phần dân sự của vụ án: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo Tô T đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại anh Nguyễn Lê Minh Q số tiền 3.000.000 đồng. Anh Q không yêu cầu bị cáo Tô T phải bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
Đối với thiệt hại của 01 (một) con heo đất đã bị cáo Tô T làm hư hỏng, người bị hại anh Nguyễn Lê Minh Q không yêu cầu bị cáo Tô T phải bồi thường, nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
Bị cáo Tô T không tranh luận, bào chữa gì, thừa nhận hành vi phạm tội chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Tô T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản hiện trường, vật chứng đã thu được tại hiện trường; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện... nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 30 tháng 3 năm 2025, tại địa bàn thôn H, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Tô T (là người đã có 03 tiền án, chưa được xoá án tích) đã trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, trị giá 3.200.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, dung lượng 128Gb, đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng và số tiền 3.000.000 đồng, đựng trong 01 (một) con heo đất của anh Nguyễn Lê Minh Q, tổng trị giá tài sản đã chiếm đoạt là 16.200.000 đồng, thì bị phát hiện, xử lý.
Bị cáo Tô T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) ...........;
g) Tái phạm nguy hiểm”.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra truy tố và xét xử bị cáo Tô T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Tô T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, là một trong những quyền về tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; thế nhưng chỉ vì ham lợi bất chính không chịu lao động, không có thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của bản thân, mà bị cáo đã không tôn trọng pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo gây ra. Trước lần phạm tội này bị cáo Tô T có 03 tiền án, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tô T phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như viện kiểm sát đề nghị mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
*Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Đ a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 587, Điều 591 BLDS.
Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Quang L là người được bị cáo Tô T gửi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47AT–101.34. Tuy nhiên, khi nhận giữ chiếc xe mô tô trên, thì anh L không biết việc trước đó bị cáo Tô T đã sử dụng chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội và anh L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Tô Ta . Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh L là có căn cứ.
Đối với bà Trần Thị C (là mẹ ruột của bị cáo Tô T). Là chủ sở hữu của căn nhà, mà bị cáo Tô T đã dùng để cất giấu các tài sản đã trộm cắp mà có. Tuy nhiên, khi bị cáo Tô T cất giấu các tài sản trên, thì bà C không biết và không đồng ý. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà C và căn nhà trên là có căn cứ.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB, số máy: MG8X3LL/A và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, dung lượng 128GB, số máy: MT962LL/A, đều đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định là các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Lê Minh Q. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho anh Q nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu trắng, số máy JK01E0440494, số khung RLHJK0103NZ205067, biển kiểm soát 47AT–101.34, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Tô Ta . Bị cáo Tô T đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc quần Jean, màu xám và 02 (hai) chiếc dép, đều có màu xanh sọc trắng, đều đã qua sử dụng, là trang phục mà Tô Ta mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Là các tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Tô Ta . Nên đề nghị trả lại cho bị cáo Tô T, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
* Về phần dân sự của vụ án: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo Tô T đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại anh Nguyễn Lê Minh Q số tiền 3.000.000 đồng. Anh Q không yêu cầu bị cáo Tô T phải bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
Đối với thiệt hại của 01 (một) con heo đất đã bị cáo Tô T làm hư hỏng, người bị hại anh Nguyễn Lê Minh Q không yêu cầu bị cáo Tô T phải bồi thường, nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
[3]. Căn cứ Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Tô T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tô T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Tô T: 02(Hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ là ngày 08/08/2025.
*Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Đ a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 585, Điều 587, Điều 591 BLDS.
-Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB, số máy: MG8X3LL/A và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen, dung lượng 128GB, số máy: MT962LL/A, đều đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Lê Minh Q nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sh Mode, màu trắng, số máy JK01E0440494, số khung RLHJK0103NZ205067, biển kiểm soát 47AT-101.34, đã qua sử dụng của bị cáo Tô T đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo Tô T 01 (một) chiếc quần Jean, màu xám và 02 (hai) chiếc dép, đều có màu xanh sọc trắng, đều đã qua sử dụng, là trang phục mà Tô Ta mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đ với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1-Đăk Lăk).
2. Về án phí: Bị cáo Tô T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Vĩ |
Bản án số 95/2025/HSST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 95/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Ta bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS