|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/HSST
Ngày: 17/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc T.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thị Hồng N;
- Ông Phạm Thái H.
- Thư ký phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Cao Thị Mỹ T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Đỗ Minh P – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
- + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Thuỷ C – Kiểm sát viên.
- + Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Nhật T – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hồ Hữu K, sinh ngày 30/11/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, Phường E (Phường F cũ), Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số A T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Pha chế cà phê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hữu T1 và bà Vương Thị Nhật T2; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A. (có mặt)
2. Huỳnh Minh T3, sinh ngày 30/01/1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số E Vườn Lài N, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy grab; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công T4 và bà Lương Thị Thu H; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị Thu H, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số E Vườn Lài N, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người làm chứng:
- - Ông Phạm Thế A, sinh năm: 1985; (vắng mặt)
- - Ông Lê Đức D, sinh năm: 1997; (vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Hoàng T5, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
- - Ông Đoàn Tấn Q, sinh năm: 1999; (vắng mặt)
- - Ông Phan Huy Ý P1, sinh năm: 2005; (vắng mặt)
Người bào chữa: Ông Ngô Văn D1, Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H là người bào chữa cho bị cáo Hồ Hữu K.
Địa chỉ: Số H T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 13/10/2024, tổ công tác gồm các ông Phạm Thế A, Lê Đức D và Nguyễn Hoàng T5 (Công an phường P, Công an Q2) đã tiến hành kiểm tra hành chính nhà hàng G (T), số E T, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện tại bàn bên trái ngay cửa ra vào nhà hàng có Đoàn Tuấn Q1, Phan Huy Ý P1, Hồ Hữu K và Huỳnh Minh T3 có biểu hiện nghi vấn đến ma túy nên tổ công tác yêu cầu kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi đeo màu đen của Hồ Hữu K có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON bên trong có 01 đoạn điếu thuốc (đã qua sử dụng) chứa thảo mộc khô, 01 lọ nhựa chứa thảo mộc khô, 01 tẩu thuốc (tự chế, đã qua sử dụng) bên trong chứa thảo mộc khô; trong túi xách màu đen của Huỳnh Minh T3 có 01 xấp giấy quấn in nhãn hiệu RAW (để trong 01 bóp màu đen) nên Tổ công tác thu giữ vật chứng, đưa Hồ Hữu K, Huỳnh Minh T3, Đoàn Tuấn Q1, Phan Huy Ý P1 cho Công an phường P, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 để xử lý theo thẩm quyền.
Theo bản kết luận giám định số: 12133/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: Thảo mộc khô trong 01 lọ nhựa được ký hiệu m₁ có khối lượng 0,7140g (không phẩy bảy một bốn không gam) là cần sa; thảo mộc khô trong 01 gói giấy được quấn thành điếu (để trong vỏ bao thuốc lá hiệu “SAIGON”), được ký hiệu m₂ có khối lượng 0,0346g (không phẩy không ba bốn sáu gam) là cần sa; thảo mộc khô trong 01 tẩu thuốc, được ký hiệu m₃ có khối lượng 0,1688g (không phẩy một sáu tám tám gam) là cần sa. (Bút lục: 119-122)
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, T3 khai nhận: K và T3 có quan hệ quen biết ngoài xã hội, cả hai đều sử dụng chất ma túy loại cần sa. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/10/2024, T3 liên lạc qua Z hẹn K đến uống nước tại quán cà phê, số C H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để nói chuyện. Tại đây, do có nhu cầu sử dụng ma túy loại cần sa, T3 hỏi K có cần sa không để lấy ra cùng sử dụng, K đồng ý và lấy ra một phần nhỏ ma túy loại cần sa từ trong lọ nhựa (để sẵn trong túi đeo màu đen của K) đưa cho T3. T3 dùng giấy quấn mang theo sẵn quấn thành điếu sử dụng trước rồi truyền tay cho K cùng sử dụng. Do K và T3 không sử dụng hết nên điếu ma túy loại cần sa được T3 rụi tắt để vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu SAIGON, đưa K cất. Sau khi sử dụng ma túy xong, T3 rủ K đi đến nhà hàng G Mới (T), số E T, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, K và T3 được ghép bàn cùng với Đoàn Tuấn Q1, Phan Huy Ý P1 thì bị kiểm tra, phát hiện thu giữ cần sa như nêu trên.
K khai nhận: Thông qua mạng xã hội Telegram K biết đối tượng tên "Duong Dealer” (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy loại cần sa nên ngày 05/10/2024, K đặt mua 05 gam ma túy cần sa với giá 1.250.000 đồng, hẹn giao tại số A T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Số ma túy loại cần sa này được K sử dụng cho bản thân nhiều lần. Ngày 13/10/2024, T3 rủ K đến quán cà phê, số C H, phường T, Quận A. K mang theo phần ma túy loại cần sa còn dư chưa sử dụng hết. Tại đây, T3 hỏi K lấy ra một phần nhỏ ma túy loại cần sa đưa cho T3 dùng giấy quấn mang theo sẵn tạo thành điếu sử dụng trước rồi truyền tay cho K cùng sử dụng. Lời khai của K và T3 phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật thu giữ; kết luận giám định; các biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản kiểm tra camera và lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. (Bút lục: 34-84, 97-123, 142-193).
Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-Q1 ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố các bị cáo Hồ Hữu K và Huỳnh Minh T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt bị cáo K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, phạt bị cáo T3 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng
- - Lưu kèm hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh đối chất, trích xuất camera khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 3747/24, chứa chất ma túy loại cần sa; các vật dụng chứa chất ma túy là 01 lọ nhựa, 01 vỏ bao thuốc lá chứa 01 gói giấy được quấn thành điếu, 01 tẩu thuốc; 01 xấp giấy quấn in nhãn hiệu RAW dùng để quấn ma túy cần sa.
- - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số Imei 1: 35511309085337, số Imei 2: 35511409085337; 01 túi xách màu đen.
- - Trả lại bị cáo T3 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 354619641179519, số Imei 2: 354619641408827; 01 túi xách màu đen; 01 bóp màu đen.
- - Trả lại bà Lương Thị Thu H 01 xe mô tô biển số: 59S2 – 051.56, số máy JF46E5028538, số khung: RLHJF4619EY328519.
Bào chữa cho bị cáo K, luật sư Ngô Văn D1 thống nhất không tranh luận về tội danh, điểm, khoản mà Viện kiểm sát truy tố, chỉ nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội khi chưa có tiền án, tiền sự; nhận thức pháp luật còn hạn chế, lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú ổn định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Phần đối đáp giữa đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa giữ nguyên quan điểm.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là không oan sai. Ngoài phần tranh luận của người bào chữa, bị cáo K và bị cáo T3 không có ý kiến tranh tụng gì thêm, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt. Bà H xin nhận lại xe mô tô biển số: 59 S2 – 051.56 làm phương tiện đi lại và không có ý kiến nào khác. Đối với những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có lời khai trong quá trình điều tra nên việc xét xử vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi và quyết định tố tụng, trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở xác định rằng các hành vi, quyết định tố tụng nêu trên là hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản hoạt động điều tra, biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, bản tường trình, biên bản bắt bị can để tạm giam, biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật, biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, bản ảnh xác nhận, kết luận giám định, biên bản kiểm tra camera, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất,... nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/10/2024 tại quán cà phê, số C H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo K có hành vi cung cấp chất ma túy loại cần sa cho bị cáo T3 rồi cùng nhau sử dụng, sau đấy bị bắt giữ cùng vật chứng. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo K và bị cáo T3 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên bất chấp xem thường pháp luật cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần có hình phạt nghiêm để xử phạt các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đây là vụ án đồng phạm mang tính tổ chức giản đơn, bị cáo K là người mua, cung cấp chất ma túy loại cần sa. Bị cáo T3 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, người đã khởi xướng để bị cáo K cung cấp chất ma túy cùng nhau sử dụng để tội phạm hoàn thành nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không thường xuyên đảm bảo cuộc sống, đồng thời căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Xét đối tượng bán ma túy tên Duong D2, bị cáo K khai không biết rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ cơ sở xử lý sau.
[9] Xét số ma túy loại cần sa có khối lượng 0,7140g trong 01 lọ nhựa và số ma túy loại cần sa có khối lượng 0,1688g trong 01 tẩu thuốc được bị cáo K cất giữ, mục đích sử dụng cho bản thân không đủ cơ sở để xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, ngày 17/3/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 06/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với bị cáo K là có cơ sở. (Bút lục: 205, 206)
[10] Xét, Đoàn Tuấn Q1 và Phan Huy Ý P1 được ghép bàn cùng bị cáo K, bị cáo T3, nhưng trước đấy các bị cáo đã cùng nhau sử dụng ma tuý loại cần sa và cất giữ loại cần sa cùng vật dụng để sử dụng ma tuý loại cần sa Q1 và P1 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 không xử lý Q1 và P1 là đồng phạm về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có cơ sở. (Bút lục: 148-151, 159-162)
[11] Xét thấy, việc Viện kiểm sát truy tố các bị cáo để đưa ra xét xử và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Lời bào chữa cho bị cáo K được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ.
[12] Xét, về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh đối chất, trích xuất camera khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số 3747/24, bên trong chứa chất ma túy loại cần sa; các vật dụng chứa chất ma túy là 01 lọ nhựa, 01 vỏ bao thuốc lá chứa 01 gói giấy được quấn thành điếu, 01 tẩu thuốc; 01 xấp giấy quấn in nhãn hiệu RAW dùng để quấn ma túy loại cần sa là vật chứng của vụ án cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số Imei 1: 35511309085337, số Imei 2: 35511409085337; 01 túi xách màu đen Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo K. Bị cáo khai sử dụng điện thoại vào việc phạm tội liên lạc để mua tuý, túi xách màu đen để dựng ma tuý loại cần sa nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 354619641179519, số Imei 2: 354619641408827; 01 túi xách màu đen; 01 bóp màu đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo T3. Xét, điện thoại, túi, bóp là tài sản cá nhân của bị cáo T3 không liên quan đến vụ án cần trả lại bị cáo.
- - Đối với 01 xe mô tô biển số: 59S2 – 051.56, số máy JF46E5028538, số khung: RLHJF4619EY328519, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo T3. Qua xác minh, xe mô tô trên của bà Lương Thị Thu H đứng tên đăng ký chủ sở hữu (bà H là mẹ ruột của bị cáo T3), bị cáo T3 mượn của bà H làm phương tiện đi lại, việc bị cáo sử dụng ma tuý loại cần sa bà H không biết và bà H mong muốn nhận lại xe làm phương tiền đi lại. Xét, việc thu giữ xe của bị cáo tâm không liên quan đến vụ án cần trả lại cho chủ sở hữu là bà H là phù hợp quy định pháp luật.
[13] Xét về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Xét về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Hồ Hữu K 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Huỳnh Minh T3 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2024.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
- + Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh đối chất, trích xuất camera khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 3747/24, bên trong chứa chất ma túy loại cần sa; các vật dụng chứa chất ma túy là 01 (một) lọ nhựa, 01 (một) vỏ bao thuốc lá chứa 01 (một) gói giấy được quấn thành điếu, 01 (một) tẩu thuốc; 01 (một) xấp giấy quấn in nhãn hiệu RAW dùng để quấn ma túy loại cần sa.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số Imei 1: 35511309085337, số Imei 2: 35511409085337; 01 (một) túi xách màu đen.
- + Trả lại bị cáo Huỳnh Minh T3 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 354619641179519, số Imei 2: 354619641408827; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) bóp màu đen.
- + Trả lại bà Lương Thị Thu H 01 (một) xe mô tô biển số: 59S2 – 051.56, số máy JF46E5028538, số khung: RLHJF4619EY328519.
- (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 64/2025/PNK-THAHS ngày 17/02/2025 của Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh)
- - Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Hồ Hữu K, bị cáo Huỳnh Minh T3 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bị cáo Hồ Hữu K, bị cáo Huỳnh Minh T3, bà Lương Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc T |
Bản án số 95/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 95/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Hữu K và Huỳnh Minh T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
