Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 95/2025/HS-ST

Ngày 26 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Lượng;
  2. Ông Nguyễn Văn Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: D L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HS ngày 04/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 12/6/2025, đối với bị cáo:

Võ Văn P, sinh ngày 24/01/1973, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn C (Chết) và bà Võ Thị S, sinh năm 1937; Vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/3/2006, Tòa án nhân dân thị xã Đông Hà (nay thành phố Đ), xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 02/01/2006.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2025 đến ngày 21/3/2025 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị Thảo N; địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 13/3/2025, Võ Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-449.12 (thuộc sở hữu của chị Võ Thị Thảo N -Con gái P) đến khu vực Kiệt A- Đ, Phường A, thành phố Đ tìm gặp nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được 05 viên ma túy (Gói trong 01 mảnh ni lon), với giá 150.000 đồng. Sau đó, P giấu ma túy tại ở tay phải rồi điều khiển xe tìm địa điểm để sử dụng.

Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi P đến trước số nhà I-T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị thì gặp Tổ công tác Công an P1 yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Do lo sợ, P vứt gói nilon bên trong có 05 viên ma túy ra phía lề đường thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.

(2) Vật chứng thu giữ:

  • 05 viên nén hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY.
  • 01 mảnh nilon và 01 xe mô tô biển kiểm soát 74C1-449.12.

(3) Kết luận giám định: Tại bản Kết luận giám định số: 376/KL-KTHS ngày 20/3/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Q, kết luận: 05 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,47g.

(4) Truy tố: Cáo trạng số: 89/CT-VKSĐH ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Võ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

(5) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Võ Văn P từ 14 đến 16 tháng tù.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ ma tuý và bao gói hoàn lại sau giám định.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Nội dung:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” mà bị cáo đã thực hiện vào chiều ngày 13/3/2025 như nội dung Bản cáo trạng số: 89/CT-VKSĐH ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở, kết luận: Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 13/3/2025, tại trước số nhà I-T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, P đang tàng trữ (Cất giấu tại phải) 0,47gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích duy nhất là để sử dụng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Võ Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.

(2) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

(3) Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân xấu nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ và cần thiết.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp án; để đảm bảo thi hành án, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

(4) Đối với nam thanh niên tên đã bán ma tuý cho P: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không xác định được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

(5) Về vật chứng:

  • Ma tuý và bao gói hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74C1-449.12 thuộc quyền sở hữu của chị Võ Thị Thảo N, P sử dụng chị N không hay biết. Viện kiểm sát đã trả lại xem mô tô cho chị N là có căn cứ. Sau khi nhận lại xe mô tô, chị N không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[III] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Võ Văn P: 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam là ngày 13/3/2025.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

01 (Một) Túi niêm phong, ký hiệu mã số M/BGSGD, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.

01 (Một) Túi niêm phong, ký hiệu mã số 376/2025/PC09, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.

(Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/6/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà .)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc bị cáo Võ Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo; người có QLVN liên quan;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 95/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn P phạm tội tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger