TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/HS-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Thọ
Ông Nguyễn Văn Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh Đ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 31 tháng 05 năm 2001 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khiêm T và bà Bùi Thị N; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 15/3/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
- Bị hại: Chị Dương Vũ T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: số nhà B, ngõ F, đường L, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Khiêm T, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình “có mặt”.
+ Anh Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1990; nơi cư trú: xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình “vắng mặt”.
+ Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 2005; nơi cư trú: xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”.
+ Cháu Trần Minh H, sinh năm 2008; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình “vắng mặt”.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Khiêm T, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình “có mặt”.
- Người làm chứng: Chị Dương Thị L, sinh năm 1992; nơi cư trú: phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh Đ là người không có việc làm ổn định, ham chơi game. Vào khoảng đầu tháng 02 năm 2025, Đ nhặt được trong quán game ở thành phố T một căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V, sinh ngày 21/9/2005, địa chỉ: thôn H, C, V, Hưng Yên, số căn cước [...]. Vì để có tiền tiêu xài và chơi game, Đ đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách dùng căn cước công dân nhặt được đi thuê xe máy rồi đem bán lấy tiền.
Đầu tháng 03 năm 2025, Đ lên mạng xã hội facebook để tìm thuê xe máy và tìm được tài khoản facebook “Ngọc L1” của chị Dương Vũ T1 chuyên cho thuê các loại xe máy giá rẻ tại Ninh Bình. Sau đó, Đ lập tài khoản facebook mang tên "Nguyễn Quang V" để giả danh là Nguyễn Quang V nhắn tin hỏi thuê xe máy. Sáng ngày 04/3/2025, Đ bắt xe ô tô khách đi từ thành phố T, tỉnh Thái Bình đến thành phố H, tỉnh Ninh Bình rồi dùng tài khoản facebook "Nguyễn Quang V" nhắn tin vào tài khoản facebook “Ngọc L1” của chị T1 để hỏi thuê xe máy. Hai bên thoả thuận giá thuê xe là 240.000 đồng trong 02 ngày từ ngày 04/3/2025 đến ngày 05/3/2025. Thoả thuận xong, Đ gửi số điện thoại 0968.918.xxx của em trai là Trần Minh H mà Đ đã mượn trước đó để chị T1 liên hệ, đồng thời hẹn chị T1 giao xe tại số B đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, chị T1 đi cùng chị gái là Dương Thị L đến địa điểm đã hẹn và giao cho Đ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-534.55. Lúc này, Đ đưa căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V để chị T1 làm hợp đồng. Chị T1 kiểm tra căn cước rồi ghi thông tin người thuê xe là Nguyễn Quang V vào hợp đồng thuê xe rồi đưa cho Đ, Đức kí, viết chữ Nguyễn Quang V vào mục bên thuê xe rồi thanh toán cho chị T1 số tiền 240.000 đồng. Sau đó chị T1 giao xe và chìa khoá cho Đ, do là xe thuê nên chị T1 không đưa giấy tờ đăng ký xe. Khi nhận được xe, Đ điều khiển xe máy về thành phố T rồi lên mạng xã hội facebook, sử dụng tài khoản facebook “Bùi Minh P” đã lập trước đó đăng bài giao bán xe. Sau khi đăng bài thì anh Nguyễn Đăng Q sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Đăng Q” nhắn tin cho Đ hỏi mua xe. Đ và Q nhắn tin trao đổi việc mua bán xe qua ứng dụng messenger và hẹn gặp nhau ở ngã tư T, thành phố T để giao dịch. Đến 16 giờ chiều cùng ngày thì anh Q đến gặp Đ để xem xe, hai bên thống nhất mua xe với giá là 3.350.000 đồng, anh Q chuyển số tiền 3.300.000 đồng từ tài khoản 988888826888 ngân hàng V1 của mình vào số tài khoản 0968918760 ngân hàng M1 mang tên Trần Minh H (em trai Đ) theo yêu cầu của Đ và đưa cho Đ 50.000 đồng tiền mặt. Giao dịch xong Đ về nhà yêu cầu em trai Trần Minh H chuyển lại số tiền 3.200.000 đồng vào tài khoản số 0394726354 ngân hàng M1 của Đ, còn lại 100.000 đồng Đ cho H. Nhận được tiền, Đ đã sử dụng toàn bộ số tiền bán xe có được vào việc tiêu xài cá nhân và chơi game hết.
Ngày 06/3/2025, do không thấy Trần Minh Đ đến trả xe theo thoả thuận nên chị Dương Vũ T1 đã đến Công an phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình trình báo sự việc và giao nộp 01 giấy đăng ký xe Honda Airblade, biển kiểm soát 26B1-534.55, 01 hợp đồng thuê xe, 01 giấy mua bán xe và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V và 07 bản photo nội dung tin nhắn trên ứng dụng messenger. Qua rà soát đối tượng, ngày 07/3/2025 Công an tỉnh N đã triệu tập Trần Minh Đ đến làm việc, Đ đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số điện thoại 0968.918.xxx. Anh Nguyễn Đăng Q giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-534.55 cùng chìa khoá xe. Ông Trần Khiêm T (là bố đẻ của Trần Minh Đ) đã giao nộp 01 áo khoác màu đen, trước ngực có chữ “A-LILANG”, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày màu trắng gót giày có chữ “Nike Air” là đồ vật mà Đức mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngày 08/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1055/YC- CSHS đối với chiếc xe chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS 26B1-534.55.
Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 12/03/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Tại thời điểm định giá, giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, BKS 26B1-534.55 là 9.000.000 đồng.
Ngày 13/03/2025, Cơ quan cánh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 791/QĐ-CSHS yêu cầu giám định chữ viết phần nội dung từ dòng 1 đến dòng 6 và chữ ký dạng chữ viết, chữ viết “V - Nguyễn Quang V” dưới các mục được mô tả trên tài liệu ký hiệu A so với chữ viết của Trần Minh Đ tại các mục được mô tả trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M3 có phải là chữ của cùng một người ký, viết ra. Tại Kết luận giám định số 244/KL-KTHS-TL ngày 26/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận:
Chữ viết phần nội dung từ dòng 1 đến dòng 6 trên tài liệu cần giám định Ký hiệu A so với chữ viết của Trần Minh Đ tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải là chữ do cùng một người viết ra.
Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết "V - Nguyễn Quang V" dưới mục "Bên B" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Trần Minh Đ tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M3 là chữ do cùng một người ký, viết ra.
Tại Bản cáo trạng số 83/CT-VKS-TPHL ngày 25 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố Trần Minh Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Sau khi sự việc xảy ra, Đ đã tác động để gia đình khắc phục hậu quả, trả lại cho anh Q số tiền 3.350.000 đồng.
Bị hại chị Dương Vũ T1 khai: Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 04/3/2025 tài khoản Facebook có tên Nguyễn Quang V nhắn tin qua ứng dụng messenger đến tài khoản Facebook của chị là Ngọc L1 hỏi thuê xe Vision hoặc Airblade. Sau khi thoả thuận về giá thì Facebook Nguyễn Quang V có gửi cho chị số điện thoại 0968.918.xxx để liên lạc và thống nhất địa chỉ giao xe tại trước cửa số nhà B đường L, phố D, Đ, thành phố H. Chị T1 và chị Dương Thị Lê M xe đến giao, khi gọi vào số điện thoại 096918760 thì thấy tắt máy và một người nam thanh niên vẫy tay, chị đã giao xe Airblade, biển kiểm soát 26B1-53455 cho người thanh niên trên. Hai bên ký hợp đồng thuê xe, thời gian thuê từ ngày 04/3/2025 đến ngày 05/3/2025, người này có xuất trình cho chị căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V có số định danh 033205002208, thường trú tại Thôn H, C, V, Hưng Yên. Quá thời hạn hợp đồng thuê xe, chị T1 dùng mọi cách liên lạc qua số điện thoại và Facebook nhưng người thuê không trả lời. Chị T1 đăng bài lên hội nhóm “V, Hưng Yên” thì có người quen của chủ căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V chủ động nhắn tin và nói rằng người này đã mất căn cước từ lâu, không có việc sang Ninh Bình thuê xe. Quá trình điều tra, chị T1 đã được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, biển kiểm soát 26B1-53455, chị không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Khiêm T khai: Sau khi sự việc bị phát hiện, Trần Minh Đ đã tác động để gia đình khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, gia đình đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh N số tiền 3.350.000 đồng. Gia đình không yêu cầu Đ phải hoàn trả lại số tiền trên.
Người làm chứng chị Dương Thị Lê K: Chiếc xe Airblade, mầu đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-534.55 là tài sản của chị T1. Khoảng 11 giờ ngày 04/3/2025, chị Lê Đ1 cùng chị T1 mang xe giao cho Đ thuê. Khi các chị yêu cầu người thuê cung cấp căn cước công dân thì người này đưa cho chị L 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V, số [...]. Sau đó chị T1 viết 01 hợp đồng thuê xe thì người này ký tên và chữ ký Nguyễn Quang V thuê xe trong 02 ngày từ 04/3/2025 đến ngày 05/3/2025 với giá 240.000 đồng, người này đưa tiền cho chị T1 rồi mang xe đi.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đăng Q khai: Khoảng 14 giờ ngày 04/3/2025, anh Q thấy 01 tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Bùi Minh P” đăng bài bán 01 chiếc xe Airblade, mầu đỏ đen, biển kiểm soát 26B1-534.55, anh đã sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Đăng Q” nhắn tin qua ứng dụng messenger hỏi mua chiếc xe trên. Hai bên hẹn xem xe và giao dịch tại ngã tư T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi xem xe, anh Q đồng ý mua xe với giá 3.300.000 đồng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 988888826888 chủ tài khoản Nguyễn Đăng Q đến số tài khoản 0968918760 tại Ngân hàng M2 do nam thanh niên cung cấp vào hồi 16 giờ 35 phút ngày 04/3/2025, sau đó cho thêm nam thanh niên 50.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 07/3/2025, anh Q được cơ quan công an thông báo chiếc xe trên có liên quan đến vụ án hình sự nên đã tự nguyện giao nộp lại để phục vụ điều tra. Anh đã được gia đình nam thanh niên trả lại số tiền mua xe nên không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang V khai: Khoảng tháng 01/2025, anh V có làm rơi 01 căn cước công dân số [...] cấp ngày 22/12/2021 mang tên Nguyễn Quang V tại thành phố T. Anh không biết việc người nhặt được căn cước đã sử dụng căn cước công dân của anh để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do anh đã làm lại căn cước công dân mới nên không có nhu cầu nhận lại.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Trần Minh H khai: H là em trai của Trần Minh Đ. Ngày 04/3/2025, H được nhận số tiền 3.300.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng M2 0968918760 người chuyển tiền là Nguyễn Đăng Q sử dụng số tài khoản 988888826888. H không biết người này là ai và đó là tiền gì. Lúc sau, Đ về nói là đây là số tiền chuyển nhờ vào tài khoản của cháu H rồi yêu cầu chuyển lại số tiền 3.200.000 đồng qua số tài khoản 0394726354 mở tại ngân hàng M2 của Đ, còn lại số tiền 100.000 đồng Đ cho cháu. Sau đó Đ có chuyển lại cho cháu H số tiền 550.000 đồng để H đi đổi tiền mặt cho Đ. Sim số điện thoại 0968.918.xxx là Đức mượn của cháu H, Đ không nói và cháu cũng không hỏi Đ mượn sim sử dụng vào việc gì, do chiếc sim điện thoại không có giá trị nên cháu H không có nhu cầu nhận lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 04 tháng tù đến 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (07/3/2025).
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S. Tịch thu tiêu huỷ: 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Quang V, 01 áo khoác mầu đen, 01 quần dài mầu đen, 01 đôi giày mầu trắng, 01 sim điện thoại số 0968.918.xxx
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Minh Đ trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Trần Minh Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần Minh Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả sao trích dữ liệu camera, sao kê tài khoản của Trần Minh Đ, sao kê tài khoản của anh Nguyễn Đăng Q, sao kê tài khoản của cháu Trần Minh H, kết luận giám định ngày 26/3/2025, kết luận định giá tài sản ngày 12/3/2025 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 04/3/2025, tại khu vực đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, Trần Minh Đ đã dùng căn cước công dân nhặt được của anh Nguyễn Quang V, sinh ngày 21/9/2005, địa chỉ ở thôn H, C, V, Hưng Yên để thuê xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 26B1-534.55 trị giá 9.000.000 đồng của chị Dương Vũ T1, sau đó mang bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. Trần Minh Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của Trần Minh Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Minh Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tác động để gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Sau khi bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú, chị Dương Vũ T1 là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội là liệt sỹ. Do đó, bị cáo Trần Minh Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” quy định tại các điểm điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật.
[2] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo Trần Minh Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân chưa từng vi phạm pháp luật, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, do bị cáo Trần Minh Đ là lao động tự do, không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 3.350.000 đồng mà anh Nguyễn Đăng Q trả cho Trần Minh Đ để mua chiếc xe mô tô Honda Airblade. Quá trình điều tra, Đ đã tác động gia đình bồi thường cho anh Q số tiền 3.350.000 đồng, anh Q đã nhận số tiền trên và không yêu cầu đề nghị gì.
Bị hại chị Dương Vũ T1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô Honda Airblade và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s là tài sản của Trần Minh Đ được Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V, anh V xác định đã làm lại căn cước công dân nên không có nhu cầu nhận lại; sim số điện thoại 0968.918.xxx là tài sản của cháu Trần Minh H, H không có nhu cầu nhận lại; 01 áo khoác màu đen, trước ngực có chữ “A-LILANG”, 01 quần dài màu đen, 01 đôi giày màu trắng gót giày có chữ “Nike Air” là tài sản của Trần Minh Đ đến nay đã cũ, hỏng, bị cáo không có nhu cầu nhận lại; đối với các vật chứng nêu trên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 26B1-534.55 cùng 01 chìa khoá xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy bán xe viết ngày 9/01/2025 là tài sản của chị Dương Vũ T1, chị T1 có đơn xin nhận lại tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại các tài sản trên cho chị Dương Vũ T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Những vấn đề có liên quan đến vụ án:
Đối với anh Nguyễn Đăng Q là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 26B1-534.55 nhưng anh Q không biết chiếc xe mô tô trên là do Đ lừa đảo mà có nên không vi phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không xem xét xử lý đối với Q là có căn cứ.
Đối với Trần Minh H là em ruột của Đ, đã cho Đ mượn sim điện thoại số 0968.918.xxx và nhận số tiền 100.000 đồng từ Đ. Tuy nhiên, H không biết mục đích mượn sim điện thoại của Đ và nguồn gốc số tiền 100.000 đồng mà Đ cho. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không xem xét xử lý đối với H là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Quang V là người trong căn cước công dân mà Đ dùng để lừa đảo. V khai trong một lần sang thành phố T chơi đã đánh rơi căn cước công dân, V không biết việc Đ sử dụng căn cước công dân của mình đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên không vi phạm.
[6] Về án phí: Do bị tuyên có tội nên bị cáo Trần Minh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện công khai hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (Ngày 07/3/2025).
- Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Quang V, 01 áo khoác mầu đen, 01 quần dài mầu đen, 01 đôi giày mầu trắng, 01 sim điện thoại số 0968.918.xxx
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục thi hành ánh dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình)
- Án phí: Buộc các bị cáo Trần Minh Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Diệu Oanh |
Bản án số 95/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 95/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 04/3/2025, Trần Minh Đ đã dùng căn cước công dân nhặt được của anh Nguyễn Quang V để thuê xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 26B1-534.55 trị giá 9.000.000 đồng của chị Dương Vũ T, sau đó mang bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân.
