|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/HS-ST
Ngày: 15 - 4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Hoan
Bà Kháng Mai Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Quốc T1; Bị cáo không có tên gọi khác; sinh năm 1982 tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố A, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông: Nông Gia L (đã chết) và bà: Bế Thị P; C sống như vợ chồng với Đặng Thùy L1, sinh năm 1989 và có 01 con chung sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vào năm 2005 và năm 2008; 01 lần bị đưa ra xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt 18 tháng tù vào năm 2019. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2024 và sau đó tạm giam cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 16/12/2024, tổ công tác Công an thành phố Đ đi làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố F, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên đã phát hiện Nông Quốc T1 đang tham gia giao thông trên đường có biểu hiện phạm tội về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu T1 dừng lại để kiểm tra. Sau khi được tổ công tác vận động, giải thích, T1 đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ bằng nilon màu xanh – nâu, bên trong có chứa chất nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa T1 về trụ sở Công an thành phố Đ để làm việc.
Tại buổi làm việc cũng như quá trình điều tra Nông Quốc T1 khai nhận gói chất nghi là ma túy đã bị thu giữ là chất Methamphetamine. Nguồn gốc số Methamphetamine này là do vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 16/12/2024, với ý định đi tìm mua ma túy về sử dụng, Nông Quốc T1 đã một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27U1-064.28 của anh Nông Quốc T2 (anh trai T1) đến khu vực tổ dân phố F, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Tại đây, T1 gặp và mua được của người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ bằng nilon màu xanh - nâu, bên trong có chứa chất Methamphetamine với giá 100.000 đồng, sau đó cầm trong lòng bàn tay trái và tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà, đi được khoảng 50m thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.
Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 16/12/2024 đã xác định: Vật chứng thu giữ của T1 là 03 viên nén màu hồng (được gói bên ngoài cùng bằng mảnh nilon màu xanh-nâu, tiếp đến là mảnh giấy bạc màu xanh, trong cùng là mảnh nilon màu trắng) có tổng khối lượng là 0,24 gam; lấy toàn bộ vật chứng gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 1844/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Khối lượng vật chứng ký hiệu M có khối lượng 0,24 gam là chất ma tuý, loại Methamphetamine; H lại đối tượng giám định theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận có khối lượng 0,15 gam. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSĐBP ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 17 tháng tù đến 20 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu để tiêu hủy vật chứng là số Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh-nâu, 01 mảnh giấy bạc màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 16/12/2024, bị cáo Nông Quốc T1 đã bị bắt quả tang trong khi đang cất giữ trái phép 0,24 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật. Với khối lượng ma tuý mà bị cáo đã cất giữ trái phép là 0,24 gam Methamphetamine thì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật song vì nhu cầu của bản thân đã cố tình vi phạm.
Về nhân thân:
Lý lịch của bị cáo theo bản án hình sự sơ thẩm số 67/2019/HSST, ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ thể hiện bị cáo có vợ là Đặng Thùy L1, tuy nhiên trong lần phạm tội này, Cơ quan Điều tra Công an thành phố Đ đã xác minh và làm rõ, bị cáo chỉ chung sống như vợ chồng với Đặng Thùy L1 mà không có đăng ký kết hôn. Tại phiên hòa hôm nay, bị cáo cũng đã khẳng định chỉ chung sống với Đặng Thùy L1 và có con chung với L1 mà không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần khẳng định bị cáo và L1 không có quan hệ vợ chồng là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Năm 2019, bị cáo đã bị đưa ra xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt 18 tháng tù; Năm 2005 và năm 2008, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Tiền án và các tiền sự này của bị cáo mặc dù đến nay đã được xoá, nhưng đây là tình tiết để xem xét về nhân thân khi lượng hình đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bố, mẹ đẻ của bị cáo đều là những người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến, vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.
[3] Hướng xử lý đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người sử dụng ma túy từ năm 2002 đến nay, để bị cáo có thời gian cai nghiện ma tuý thì cần phải áp dụng một mức hình phạt tù có thời hạn, phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thì bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Số Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,24 gam (đã gửi giám định toàn bộ và hoàn lại 0,15 gam sau khi giám định). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu xanh-nâu, 01 mảnh giấy bạc màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[7] Vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua được của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27U1-064.28 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện khi phạm tội là tài sản hợp pháp của anh trai bị cáo – Nông Quốc T2, anh T2 không việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T2 vào ngày 07/02/2025 là phù hợp theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, tuyên bố bị cáo Nông Quốc T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Quốc T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 16/12/2024).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau khi giám định); 01 mảnh nilon màu xanh-nâu, 01 mảnh giấy bạc màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15/4/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Duy |
5
Bản án số 95/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 95/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/12/2024, bị cáo Nông Quốc T1 đã bị bắt quả tang trong khi đang cất giữ trái phép 0,24 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác.
