Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HS-ST

Ngày: 12 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quang Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê P, sinh ngày 06/02/2001, tại thành phố H; căn cước công dân số [...], cấp ngày 29/01/2023, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; giới tính: Nam; nơi thường trú: TDP C, phường L, quận P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 8/12; con ông Lê H, sinh năm: 1958 và bà Tôn Nữ Thị X, sinh năm: 1967; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án. Ngày 20/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích và tội bắt giữ người trái pháp luật”, bản án số 176/2020/HSST. Ngày 07/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 sau đó, bị khởi tố, chuyển tạm giam từ ngày 13/9/2024 cho đến nay. Có mặt

2. Lê Trương Quốc N, sinh ngày 27/8/2001, tại thành phố H; giới tính: Nam; căn cước công dân số [...], tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 10/12; con ông Lê Q, sinh năm: 1968 và bà Trương Thị C, sinh năm: 1970; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ Võ Ngọc Diễm N1, sinh năm 2001; có 01 con sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 sau đó, bị khởi tố, chuyển tạm giam từ ngày 13/9/2024 cho đến ngày 25/4/2025 được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Phan Đức H1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện P, thành phố H; Có mặt.
  • - Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; Vắng mặt.
  • Anh Phan Xuân T1, sinh năm 1999; địa chỉ: Số B đường N, phường G, quận P, thành phố H; Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Chị Huỳnh Thị L, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B đường N, phường G, quận P, thành phố H; Có mặt.
  • - Chị Đỗ Huệ M, sinh năm 2003; địa chỉ: TDP T, phường H, quận P, thành phố H; Vắng mặt.
  • - Chị Phan Thị Hằng N2, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện P, thành phố H; Vắng mặt.
  • - Ông Trương Đình D, sinh năm 1965; địa chỉ: Số 1 đường D, phường X, quận T, thành phố H; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 03 tháng 9 năm 2024 Lê P cùng với Phan Xuân T1, Huỳnh Thị L, Đỗ Huệ M cùng nhau ăn nhậu tại quán K đường T, phường G, quận P, thành phố H. Trong lúc cả nhóm đang ngồi nhậu, P nhận được cuộc điện thoại của Lê Trương Quốc N rủ P về ăn nhậu với N nhưng P từ chối do đang ở xa và P đã rủ N lên Huế chơi nhưng N không đồng ý. Sau đó, P tiếp tục nhận được cuộc gọi điện thoại của Nguyễn Công T cùng rủ P về nhậu với T nhưng P từ chối và P rủ lại T lên Huế chơi thì T đồng ý. Sau khi nhậu xong, P rủ L, T1, M đi đến quán Bar V ở địa chỉ 7 Bà T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường X thuộc quận T, thành phố H) uống bia và nghe nhạc thì cả nhóm đồng ý và đón xe taxi đến quán Bar V. Khi vào quán, P cùng nhóm bạn ngồi tại bàn Vip 24 quán Bar V, trong lúc ngồi một mình tại bàn P tiếp tục nhận được cuộc gọi điện thoại của N hỏi đang ngồi ở đâu P trả lời đang ngồi tại bàn Vip 24 quán Bar V đường Bà T2, rồi P và N trao đổi qua lại và thống nhất với nhau là P trả tiền bàn (các khoản chi phí tại quán Bar V) còn N mua ma túy đem đến sử dụng chung với nhau. Sau đó, N sử dụng tài khoản mạng xã hội Telegram của mình để liên lạc với một người (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản có tên “Hanh_La” để đặt mua 03 viên ma túy kẹo và một nửa hộp năm ma túy khay với giá tiền là 3.200.000 đồng và yêu cầu người này đem đến giao tại quán Bar V cho P trước rồi N sẽ trả tiền sau. Một lúc sau, khi P đang ngồi tại bàn Vip24 của quán Bar V thì có 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đi vào bàn gặp P và hỏi bàn của P phải không, thì P

nói phải rồi đưa cho P 01 gói ma túy và rời khỏi bàn. Lúc này P mở ra xem và thấy bên trong có 03 viên ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy khay, P thấy có 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng ở gần bàn trong quán nên gọi lại để nhờ người này “xào” giúp gói ma túy khay và P bồi dưỡng 200.000 đồng tiền công cho người thanh niên này. Nam thanh niên cầm gói ma túy đi đâu một lúc rồi quay lại bàn đưa số ma túy đã “xào” cho P rồi bỏ đi. P đổ ma túy vào trong ly thủy tinh nhỏ (có sẵn trên bàn) rồi lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn làm ống hút và đặt trên bàn, P lấy 01 viên ma túy chia làm đôi và sử dụng một nửa và một nửa đưa cho M sử dụng. Một lúc sau thì Lê Trương Quốc N cùng nhóm bạn của mình là Nguyễn Công T, Phan Đức H1 và Phan Thị Hằng N2 đến vào ngồi chung bàn Vip 24 và cùng nhau sử dụng ma túy, chỉ có Phan Thị Hằng N2 không sử dụng ma túy.

Vào lúc 00 giờ 15 phút ngày 04/9/2024 lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là thành phố H) phát hiện bắt quả tang cả nhóm gồm: P, N, H1, T1, T, L, M đang sử dụng trái phép chất ma túy (trừ N2 không sử dụng ma túy) và thu giữ trên bàn Vip 24 tại quán Bar V gồm 01 ly thủy tinh màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng dạng bột trong ly thủy tinh, 01 tờ tiền ngân hàng Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng quấn thành hình trụ tròn và được gập lại làm hai và cột bằng dây cao su màu đỏ.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Lê P, Lê Trương Quốc N, Phan Xuân T1, Huỳnh Thị L, Đỗ Huệ M, Phan Đức H1, Nguyễn Công T đều dương tính với chất ma túy; Phan Thị Hằng N2 âm tính với chất ma túy trong cơ thể.

* Vật chứng tạm giữ gồm:

  • - Chất tinh thể rắn màu trắng dạng bột trong ly thủy tinh được cho vào túi ni lông màu trắng viền đỏ, được niêm phong kín bằng bì thư và băng keo trong, bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Lê Thanh Q; các đối tượng Phan Đức H1, Phan Xuân T1, Lê Trương Quốc N, Nguyễn Công T, Lê P, Phan Thị Hằng N2, Huỳnh Thị L, Đỗ Huệ M và 02 dấu tròn đỏ của Công an phường X, thành phố H.
  • - 01 ly thủy tinh;
  • - 01 tờ tiền ngân hàng Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng quấn thành hình tròn và được gập lại làm hai và cột lại bằng sợi dây cao su màu đỏ;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352838112269219, bên trong có thẻ sim số 0908108263 (thu giữ của Phan Đức H1);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350400616308704, bên trong có thẻ sim số 0979557598 (thu giữ của Nguyễn Công T);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số I (khe 1): 865349040937257, số I (khe B): 865349042137252, bên trong có thẻ sim số 0898415727 (thu giữ của Phan Xuân T1);

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Trương Quốc N, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353859085066527, bên trong có thẻ sim số 0787719558 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 354275381639152 (thu giữ của Lê Trương Quốc N).

* Tại bản kết luận giám định số: 642 ngày 08/9/2024 của phòng K Công an tỉnh T (nay là phòng K Công an thành phố H), kết luận:

Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1, phần II) có khối lượng là 1,5395g (Một phẩy năm ba chín năm gam) là ma túy, loại Ketamine.

Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tạm giữ gồm:

  • +1,4395g (Một phẩy bốn ba chín năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng (nêu tại mục 1, phần II);
  • + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N3, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Lê Thanh Q, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T (nay là phòng K Công an thành phố H) và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Lê P và 07 người khác, bắt ngày 04/9/2024”.

Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKSTH ngày 05 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa truy tố các bị cáo Lê P và Lê Trương Quốc N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt:
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lê P từ 7 năm đến 7 năm 3 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 04/9/2024.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Lê Trương Quốc N từ 4 năm đến 4 năm 3 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến ngày 25/4/2025;

  • - Về xử lý vật chứng:
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 ly thủy tinh; số ma túy còn lại đã qua giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
  • + Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353859085066527, bên trong có thẻ sim số 0787719558 thu giữ của Lê Trương Quốc N.
  • + Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352838112269219, bên trong có thẻ sim số 0908108263 cho Phan Đức H1; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350400616308704, bên trong có thẻ sim số 0979557598 cho Nguyễn Công T); trả lại 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số I (khe 1): 865349040937257, số I (khe B): 865349042137252, bên trong có thẻ sim số 0898415727 cho Phan Xuân T1; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 354275381639152 cho Lê Trương Quốc N.
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến, khiếu nại gì, nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 04/9/2024 tại bàn VIP24 quán Bar V, địa chỉ số G đường B, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường X, quận T, thành phố H) Lê P và Lê Trương Quốc N đang có hành vi cùng nhau tổ chức cho Phan Xuân T1, Huỳnh Thị L, Đỗ Huệ M, Phan Đức H1, Nguyễn Công T và bản thân mình sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số ma túy còn lại mà cả nhóm chưa kịp sử dụng hết là 1,5395g (Một phẩy năm ba chín năm gam) ma túy, loại Ketamine.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nên các bị cáo phải chịu hậu quả chung. Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý “Đối với 02 người trở lên”. Do đó, bị cáo Lê P và Lê Trương Quốc N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và góp phần làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác.

Trong vụ án này, Lê P là người chuẩn bị địa điểm (đặt bàn tại quán Bar V), bàn bạc thống nhất với Lê Trương Quốc N mua ma túy để tổ chức sử dụng trái phép đồng thời P nhờ người xào ma túy và là người trực tiếp chia viên ma túy ra đưa cho Đỗ Huệ M sử dụng nên phải chịu trách nhiệm chính. Lê Trương Quốc N là người trực tiếp liên hệ mua ma túy nên chịu trách nhiệm với vai trò là người thực hành.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo Lê Trương Quốc N có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo Lê P đã từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích và tội bắt, giữ người trái pháp luật”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nhận ra lỗi lầm của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Lê Trương Quốc N, trước khi xét xử đã cung cấp thông tin tố giác tội phạm để cơ quan Công an phát hiện tội phạm và có xác nhận của Công an phường T, quận T, thành phố H đồng thời được Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố H tặng giấy khen do “Đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ tích cực tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn phường”, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Lập công chuộc tội” được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Bị cáo Lê Trương Quốc N có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, nên việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Trương Quốc N dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy còn lại đã qua giám định là chất độc hại cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định và 01 ly thủy tinh là dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353859085066527, bên trong có thẻ sim số 0787719558 thu giữ của Lê Trương Quốc N. Xét các vật chứng này đều là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352838112269219, bên trong có thẻ sim số 0908108263 thu giữ của Phan Đức H1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350400616308704, bên trong có thẻ sim số 0979557598 thu giữ của Nguyễn Công T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số I (khe 1): 865349040937257, số I (khe B): 865349042137252, bên trong có thẻ sim số 0898415727 thu giữ của Phan Xuân T1 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 354275381639152 thu giữ của Lê Trương Quốc N. Xét các vật chứng này không được sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho các chủ sở hữu.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê P và bị cáo Lê Trương Quốc N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
    2. Xử phạt bị cáo Lê P 7 năm 6 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 04/9/2024.

    3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
    4. Xử phạt Lê Trương Quốc N 5 năm tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến ngày 25/4/2025. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

    5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
      • - Tịch thu tiêu hủy: 01 ly thủy tinh và 1,4395g (Một phẩy bốn ba chín năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng và các vật dụng dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N3, 02 (hai) chữ ký của Điều tra viên Lê Thanh Q, 02 (hai) dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Lê P và 07 người khác, bắt ngày 04/9/2024".
      • - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 353859085066527, bên trong có thẻ sim số 0787719558 thu giữ của Lê Trương Quốc N.
      • - Trả lại: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352838112269219, bên trong có thẻ sim số 0908108263 cho Phan Đức H1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350400616308704, bên trong có thẻ sim số 0979557598 cho Nguyễn Công T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số I (khe 1): 865349040937257, số I (khe B): 865349042137252, bên trong có thẻ sim số 0898415727 cho Phan Xuân T1 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 354275381639152 cho Lê Trương Quốc N.

      Các vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/5/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa.

    6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
    7. Buộc các bị cáo Lê P, Lê Trương Quốc N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

    8. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người nêu trên vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Sở tư pháp thành phố Huế;
  • - Công an thành phố Huế;
  • - Phòng PV 06 CA thành phố Huế;
  • - Cơ quan THAHS CA thành phố Huế;
  • - VKSND quận Thuận Hóa;
  • - Chi cục THADS quận Thuận Hóa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Quang Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger