Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/6/2025.

V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Văn Dũng.
  • 2/ Ông Giang Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 210/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1987; Nơi ĐKTT: Xã Đ, huyện M, tỉnh Quãng Ngãi. Chỗ ở hiện nay: ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích L và anh Hoàng Văn C tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau, anh chị đi đến hôn nhân vào năm 2018. Chị L và anh C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2018. Trong quá trình chung sống với nhau, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, mà chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, giữa chị và anh C không có tiếng nói chung và bất đồng quan điểm sống nên hai người thường xuyên cự cãi nhau; từ đó chị và anh C đã sống ly thân với nhau cho đến năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị Bích L yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn C.

- Về con chung: Quá trình chung sống với nhau giữa chị L và anh C có 01 người con chung tên Hoàng Ngọc Vân A, sinh ngày 04/01/2020, hiện cháu Vân A đang do anh C nuôi dưỡng. Vì vậy, khi ly hôn chị L đồng ý giao cháu Hoàng Ngọc Vân A cho anh C được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và nợ chung: Chị L xác định chị và anh C không có tài sản chung và không nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 22/5/2025 bị đơn anh Hoàng Văn C trình bày:

Anh Hoàng Văn C thống nhất lời trình bày của chị Nguyễn Thị Bích L về quá trình đi đến hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2018. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị L chủ yếu là do tính tình không hợp nhau và bất đồng quan điểm sống nên hai người thường xuyên cự cãi nhau và cũng từ đó anh và chị L đã sống ly thân với nhau cho đến năm nay. Nay chị Nguyễn Thị Bích L yêu cầu được ly hôn với anh thì anh C cũng đồng ý.

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Hoàng Ngọc Vân A, sinh ngày 04/01/2020, hiện cháu Vân A đang do anh C nuôi dưỡng. Vì vậy, ly hôn anh C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Vân A cho đến tuổi thành niên và anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và nợ chung: Anh C xác định anh và chị L không có tài sản chung và không nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định vụ án như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Bích L yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn C; Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Hoàng Văn C có nơi cư trú tại ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích L và bị đơn anh Hoàng Văn C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án HĐXX có cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị Bích L và bị đơn anh Hoàng Văn C xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, anh chị có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2018. Như vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bích L với anh Hoàng Văn C là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về tình trạng hôn nhân HĐXX thấy rằng: Trong quá trình chung sống với nhau giữa chị L và anh C có phát sinh mâu thuẫn mà theo như chị L và anh C đều cho rằng trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị có phát sinh nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, hai người không có tiếng nói chung và bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, vì vậy chị L và anh C bắt đầu sống ly thân với nhau đến nay. Hiện nay chị L không còn tình cảm gì với anh C nữa, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được và cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị L cương quyết ly hôn với anh Hoàng Văn C thì được anh C đồng ý. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần thiết ghi nhận. Do đó, căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX thống nhất ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích L với anh Hoàng Văn C.

[3.2] Về quan hệ con chung: Có 01 người con chung tên Hoàng Ngọc Vân A, sinh ngày 04/01/2020, hiện cháu Vân A đang do anh C nuôi dưỡng. Vì vậy, ly hôn anh C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Vân A cho đến tuổi thành niên thì được chị L đồng ý. HĐXX thấy rằng đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần thiết ghi nhận. Do đó, HĐXX thống nhất tiếp tục giao cháu Hoàng Ngọc Vân A cho anh Hoàng Văn C tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Bích L trình bày chị có đủ khả năng nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

[3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh C đều xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX miễn xét, trường hợp có phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện ở vụ kiện dân sự khác.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; 227, 228 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích L với anh Hoàng Văn C.

2/ Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, giao cháu Hoàng Ngọc Vân A, sinh ngày 04/01/2020 cho anh Hoàng Văn C được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xét.

Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian anh C nuôi con; chị L được quyền đến thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

3/ Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xét.

4/ Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0011211 ngày 28/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Nguyễn Thị Bích L không phải nộp thêm, anh Hoàng Văn C không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS nhân dân huyện Hòn Đất;
  • - THA huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ





Trịnh Thị Hồng Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger