Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 6 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thiện;
2. Ông Lê Văn Công

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị G, sinh năm 1982; thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: 144/5 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1982; thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: 144/5 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 12 năm 2024, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – bà Phùng Thị G trình bày:

Bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 154/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 25/12/2014.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm Hoài B, sinh ngày 29/10/2014.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Sau đó vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn giữa mẹ chồng với nàng dâu, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Vợ chồng nhiều lần tạo cơ hội để đoàn tụ nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân nhau.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên bà Phùng Thị G khởi kiện yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Phùng Thị G yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Hoài B, sinh ngày 29/10/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phùng Thị G không yêu cầu ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phùng Thị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình tố tụng thể hiện bị đơn ông Phạm Văn T có đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ số A khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã L, huyện C được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 154/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 25/12/2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà Phùng Thị G khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thường xuyên cải nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Xét quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của giữa bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà giữa bà Phùng Thị G về việc ly hôn với ông Phạm Văn T.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phùng Thị G và ông Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm Hoài B, sinh ngày 29/10/2014. Xét con chung từ nhỏ sống cùng bà G và ông T, đến khi hai vợ chồng sống ly thân nhau thì bà G là người trực tiếp quan tâm, chăm sóc con cho đến nay, quá trình tố tụng ông T vắng mặt không có lý do nên cần thiết giao con chung cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.

[3.3] Về cấp dưỡng: Bà Phùng Thị G không yêu cầu ông Phạm Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Thị G.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  • - Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị G đối với ông Phạm Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị G được ly hôn với ông Phạm Văn T.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Phạm Hoài B, sinh ngày 29/10/2014 cho bà Phùng Thị G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  • - Về cấp dưỡng: Ông Phạm Văn T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Phùng Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000651 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THA thành phố Thuận An;
  • - UBND xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo GCNKH sso 154/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 25/12/2024;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger