Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025.

V/v tranh chấp về ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trọng Nhân;
  2. Ông Nguyễn Thanh Văn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 684/2024/TLST-HN ngày 31 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Quách Ngọc Xuân T, sinh năm: 1997.
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Huỳnh Thế D, sinh năm: 1989.
  4. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Ngọc Xuân T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh D chung sống với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện D, Tây Ninh ngày 18/5/2021. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần. Chị và anh D sống ly thân với nhau từ tháng 3/2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không hòa giải hàn gắn gia đình được. Nay nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Thế D.

Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung tên Huỳnh Minh K, sinh ngày 15/5/2023, hiện tại con chung đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đối với bị đơn – anh Huỳnh Thế D:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh D không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù qua xác minh, chính quyền địa phương cung cấp anh vẫn còn hộ khẩu ở địa phương nhưng vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Quách Ngọc Xuân T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Huỳnh Thế D đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh D là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Ngọc Xuân T, cho chị T được ly hôn với anh Huỳnh Thế D. Về con chung: Áp dụng Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 01 con chung tên Huỳnh Minh K, sinh ngày 15/5/2023 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Quách Ngọc Xuân T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Huỳnh Thế D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Ngọc Xuân T và anh Huỳnh Thế D trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện D, Tây Ninh ngày 18/5/2021 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị T trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng chung sống nhưng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần. Mặt khác, anh D không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, chị T được ly hôn với anh D là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Quách Ngọc Xuân T và anh Huỳnh Thế D có 01 con chung tên Huỳnh Minh K, sinh ngày 15/5/2023, hiện tại con chung đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu K đang sống chung với chị T, từ ngày ly thân cho đến nay chị T vẫn nuôi con tốt. Do vậy, cần giao cháu K cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.

Anh Huỳnh Thế D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị Quách Ngọc Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị Quách Ngọc Xuân T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện G, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Quách Ngọc Xuân T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Ngọc Xuân T với anh Huỳnh Thế D.
  2. Chị Quách Ngọc Xuân T được ly hôn với anh Huỳnh Thế D.

  3. Về con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Minh K, sinh ngày 15/5/2023 cho chị Quách Ngọc X Thùy tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Huỳnh Thế D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
  4. Anh Huỳnh Thế D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  5. Về tài sản chung: Chị Quách Ngọc Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Về nợ chung: Chị Quách Ngọc Xuân T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
  7. Về án phí: Chị Quách Ngọc Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010393 ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị Quách Ngọc Xuân T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
  8. Anh Huỳnh Thế D không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị T, anh D có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Phòng NVKT.TAT;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - Chi cục THA Gò Dầu;
  • - UBND xã Phước Minh, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn và con chung

  • Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger