Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 10 - 2025.
V/v: “T/c ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Nguyễn Quí Hạc.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 563/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 06 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sa Thị H, sinh năm 1993. Căn cước công dân số: [...] do Bộ C cấp. Nơi đăng ký cư trú: Xóm Đ, xã X, tỉnh Phú Thọ. Hiện cư trú tại: Tổ D, ấp P, xã B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông FANG, PO-SUNG, sinh năm 1991. Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan). Hộ chiếu số: 352.832.094 do Bộ N (Đài Loan) cấp ngày 05/9/2019. Nơi đăng ký cư trú: 16/113 Phố Đ, Cụm D, thôn P, xã T, huyện T, Đài Loan.

Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của ông F, P-S: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1990. Địa chỉ: G, Tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Sa Thị H và ông F, P-Sung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn bà Sa Thị H trình bày:

Bà Sa Thị H và ông F, P-Sung tự nguyện yêu thương chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 14/11/2022.

Do bà và ông F, P-Sung tìm hiểu nhau chưa kỹ đã vội vàng đi đến hôn nhân, nên chỉ sau một thời gian ngắn cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về văn hóa, lối sống, cách sinh hoạt khác nhau. Từ đó cả hai thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân với nhau từ nhiều năm nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm lẫn nhau. Nay, bà H xác định không còn tình cảm yêu thương dành cho ông F, P-Sung nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H đề nghị được ly hôn với ông F, P-Sung.

Về con chung: Bà H trình bày bà và ông F, P-Sung không có con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Bà H cam kết bà và ông F, P-Sung không có nợ chung.

* Theo Bản tự khai đề ngày 29/8/2025, đơn xin vắng mặt ngày 29/8/2025, ông F, P-Sung trình bày ý kiến như sau:

Ông và bà Sa Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 14/11/2022.

Ông F, P-S đồng ý ly hôn với bà Sa Thị H1 vì ông và bà H không phù hợp với nhau, không dành tình cảm cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa các bên có nhiều khác biệt về văn hóa, lối sống nên không tìm được tiếng nói chung. Bên cạnh đó do khoảng cách về địa lý nên ông bà ít liên lạc với nhau, lâu dần trở nên xa cách, ông và bà H đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay.

Về con chung: Ông F, P-S trình bày ông và bà Sa Thị H không có con chung.

Tài sản chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Ông F, P-Sung cam kết ông và bà Sa Thị H không có nợ chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Sa Thị H được ly hôn với ông F, P-Sung. Về con chung: bà Sa Thị H và ông F, P-Sung trình bày không có con chung. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự:

[1.1] Bà Sa Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông F, P-S, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H có nơi cư trú tại địa chỉ tổ D, ấp P, xã B, tỉnh Đồng Nai, ông F, P-Sung có nơi cư trú tại: 16/113 P, Cụm D, thôn P, xã T, huyện T, Đài Loan nên bà H có quyền lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú để giải quyết vụ án. Căn cứ điều 35, Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

[1.2] Bà Sa Thị H và ông F, P-Sung có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Sa Thị H và ông F, P-Sung là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 14/11/2022 theo đúng quy định tại Điều Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Bà Sa Thị H và ông F, P-Sung đều thừa nhận sau khi kết hôn, do có nhiều khác biệt về văn hóa, lối sống và quan điểm sinh hoạt nên giữa bà H và ông Fang P-Sung thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, đời sống chung không hạnh phúc. Từ cuối năm 2022 đến nay, bà Sa Thị H và ông F, P-Sung đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Sa Thị H và ông F, P-S đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho bà Sa Thị H được ly hôn với ông F, P-Sung.

2.2. Về con chung: Bà H và ông F, P-Sung trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.3. Về tài sản chung: Bà Sa Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, ông F, P-Sung không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.4. Về nợ chung: Bà Sa Thị H trình bày không có, ông F, P-Sung không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Sa Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sa Thị H:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Sa Thị H được ly hôn với ông F, P-Sung.
  2. Về con chung: Các đương sự trình bày không có con chung.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sa Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001379 ngày 09/06/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ). Bà Sa Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 3 - Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh đồng Nai;
  • - UBND xã Xuân Đài, tỉnh Phú Thọ;
  • (Giấy KH số 08 ngày 14/11/2022);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Duy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 17/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa bà Sa Thị H và Fang,Po-Sung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger