TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 6 – 2025 V/v Ly hôn và nuôi con | |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG | |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Hiếu;
Ông Trần Hoàng Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm Sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Hồng X, sinh ngày 05/4/1998, địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Phan Đức N, sinh ngày 15/12/1993, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 21/02/2025 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Hồng X trình bày:
Bà và ông Phan Đức N quen nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 27/3/2017, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vợ chồng có 02 con chung tên Phan Trần Hồng H, sinh ngày 04/5/2015 (đang sống với bà nội) và Phan Đức A, sinh ngày 01/6/2020, hiện đang sống với bà.
Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, làm cho cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tiếng nói chung, nên đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay.
Nhận thấy, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, bà X yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Phan Đức N.
- Về con chung: Yêu cầu được nuôi con chung Phan Đức A; đồng ý giao cháu Phan Trần Hồng H cho ông N nuôi dưỡng; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn ông Phan Đức N không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Đức N, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do; Nguyên đơn bà Trần Hồng X vắng mặt, nhưng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Hồng X và ông Phan Đức N tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng ngày 27/3/2017, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
[3] Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà X, ông N xảy ra bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên đã sống ly thân từ tháng 3/2023. Đến thời điểm này, cả bà X và ông N cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X đối với ông N.
[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà X và ông N có 02 người con chung Phan Trần Hồng H, sinh ngày 04/5/2015 (đang sống với gia đình ông N) và Phan Đức A, sinh ngày 01/6/2020, hiện đang sống với bà X.
[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
[6] Xét thấy, cháu A từ nhỏ đã được người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ; còn cháu H hiện đang sống ổn định với bên gia đình ông N, bà X cũng đồng ý giao cho ông N nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của hai cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X, giao cháu H cho ông N nuôi dưỡng; giao cháu A cho bà X nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục hai người con chung này, không ai được ngăn cản.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Hồng X được ly hôn với ông Phan Đức N.
- Về con chung: Giao cho bà X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Đức A, sinh ngày 01/6/2020, đến đủ 18 tuổi; giao cho ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Trần Hồng H, sinh ngày 04/5/2015, đến đủ 18 tuổi; ông N và bà X được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà X phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009597, ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà X đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vinh Thắng |
Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
