Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/6/2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kiều Hương

Bà Bùi Thị Thu Nhi

-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Thảo Trang – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 701/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Tuyết L, sinh năm: 1980. Có mặt
  2. Địa chỉ: số C, ấp M, xã M, thành phố M, Tiền Giang

  3. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm: 1977. Vắng mặt
  4. Địa chỉ: số C, ấp M, xã M, thành phố M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Trong đơn khởi kiện ngày 03/12/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Tuyết L trình bày:

Chị và anh Lê Văn H có tìm hiểu nhau khoảng 04 năm, tiến đến hôn nhân vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Sau cưới, anh chị chung sống tại nhà gia đình chị ở xã T, khi đứa con đầu học lớp Một thì vợ chồng mua nhà đất ở xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang ở đến nay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không còn phù hợp, kéo dài mà không khắc phục được nên đã sống ly thân từ năm 2017. Nay, vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 06/12/2001 (đã trưởng thành) và Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 11/3/2015. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lê Văn H đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ yêu cầu ly hôn với anh H; về con chung là chị yêu cầu được nuôi con là cháu Đ, không yêu cầu anh H cấp dưỡng; về tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết. Anh H vắng mặt không có lý do.

*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn thực hiện chưa đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L. Về hôn nhân, cho chị L ly hôn với anh H. Về con chung, giao chị L được nuôi dưỡng cháu Đ, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Lê Văn H được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Tuyết L và anh Lê Văn H cưới nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2002 tại UBND xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29/HT, quyển số 01, như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị L thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong cuộc sống gia đình, tính tình không còn hợp nên ít nói chuyện với nhau, đến năm 2017 thì sống ly thân cho đến nay. Anh H đi làm xa, rất ít về nhà nên không thể hàn gắn. Chị không còn tình cảm với anh H, vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy, chị L xin ly hôn nhưng anh H không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị L dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại phiên tòa hôm nay anh H không đến Tòa án và vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh H không có ý chí mong muốn vợ chồng hàn gắn, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng mà để mặc cho chị L quyết định.

Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa chị L và anh H không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay chị L xin ly hôn với anh H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: có 02 con chung tên Lê Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 06/12/2001 (đã trưởng thành) và Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 11/3/2015. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu Đ hiện đang sống chung với chị L, cháu có nguyện vọng tiếp tục ở với mẹ. Xét, đây là ý chí và nguyện vọng tự nguyện của cháu. Do đó để ổn định về tâm sinh lý và phù hợp nguyện vọng con, cần giao cháu Đ cho chị L nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không có yêu cầu.

Anh H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

[4] Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Tuyết L được ly hôn với anh Lê Văn H.
  2. Về con chung: có 02 con chung tên Lê Huỳnh Thanh H1, sinh ngày 06/12/2001 (đã trưởng thành) và Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 11/3/2015. Giao chị Huỳnh Thị Tuyết L nuôi dưỡng con chung tên Lê Huỳnh Đ, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
  3. Anh Lê Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Tuyết L chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0005328 ngày 27/12/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên xem như nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

-VKSND TP Mỹ Tho;

-Chi cục THADS TP Mỹ Tho;

-TAND tỉnh TG;

-Các đương sự;;

-Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bảnh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger