TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 12 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích, bà Nguyễn Thị Thu Cúc.
Thư ký phiên toà: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 134/2025/TLST-HN&GĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2025/QĐXXST-HN ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1990, căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: số C, khóm H, phường M, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1979, căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: số D, khóm T, phường M, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L (sau đây gọi tắt là nguyên đơn hoặc bà L) trình bày: Bà L với ông H quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, được cấp giấy đăng ký kết hôn số 154 ngày 02-8-2022. Thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ, hạnh phúc, đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nguyên nhân do ông H không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, tự ý bán đất tiêu xài riêng, không phụ cấp chi phí nuôi con, tình cảm vợ chồng của bà L đối với ông H đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Huỳnh Thanh H.
- Về con chung, cấp dưỡng: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 (một) con chung tên Huỳnh Dư H1, sinh ngày 09-8-2022. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 08-9-2025 (bản chính); giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai sinh Huỳnh Dư H1 (bản sao).
Lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Thanh H (sau đây gọi tắt là ông H hoặc bị đơn) trình bày: Ông H thống nhất lời trình bày của bà L về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, được cấp giấy đăng ký kết hôn số 154 ngày 02-8-2022. Khoảng năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H phát hiện bà L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, vợ chồng có hàn gắn và tiếp tục chung sống. Đến khoảng tháng 6-2025, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, do cần tiền trả công thợ nên ông H đem xe mô tô của bà L cầm cố, được sự đồng ý của bà L, sau 03 ngày ông H chưa chuộc xe lại thì bà L mua xe mới, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến bất đồng trong cuộc sống nguyên nhân do ông H không chu cấp đủ cho cuộc sống của vợ con; ngoài ra, giữa vợ chồng không còn mâu thuẫn nào khác, ông H vẫn còn thương vợ con nên không đồng ý theo yêu cầu ly hôn của bà L.
Về con chung, cấp dưỡng: Thống nhất lời trình bày của bà L, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 (một) con chung tên Huỳnh Dư H1, sinh ngày 09-8-2022, hiện đang sống cùng bà L. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông H đồng ý giao con chung Huỳnh Dư H1 cho bà L được trực tiếp nuôi dạy, ông H không cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
Bị đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm; ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L đối với ông Huỳnh Thanh H. Về con chung, cấp dưỡng: giao con chung Huỳnh Dư H1, sinh ngày 09-8-2022 cho bà L được trực tiếp nuôi dạy, ghi nhận sự tự nguyện của ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động; về tài sản chung, nợ chung, bà L, ông H cùng không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Thanh H; ông H hiện đang cư trú trên địa bàn phường M, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Huỳnh Thanh H chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L theo giấy chứng nhận kết hôn số 154, ngày 02-8-2022 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Theo bà L trình bày, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2025 do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông H không có trách nhiệm với vợ con, không tôn trọng vợ và không chu cấp tiền để nuôi con, tự ý chuyển nhượng đất để sử dụng riêng, nợ nần bà phải trả; bà với ông H đã không còn sống chung với nhau từ tháng 6-2025 đến nay, từ đó đến nay vợ chồng vẫn không hàn gắn, ông H vẫn không có trách nhiệm với vợ con, tình cảm vợ chồng đối với ông H đã không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể hàn gắn để quay lại chung sống nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông H.
Ông H thừa nhận, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông không chu cấp đủ để lo cho cuộc sống vợ con theo yêu cầu của bà L, ông H với bà L đã không còn sống chung với nhau từ tháng 6/2025 đến nay; từ khi bà L gửi đơn khởi kiện ly hôn đến nay giữa vợ chồng vẫn không hàn gắn được tình cảm, tuy nhiên, ông H vẫn còn thương vợ
con, tình cảm vợ chồng vợ chồng đối với bà L vẫn còn nên không đồng ý theo yêu cầu ly hôn của bà L.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc phải có sự tự nguyện từ cả vợ và chồng, cả hai cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nếu chỉ có sự níu kéo từ một phía sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân sẽ không đạt được. Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L, ông H đã kéo dài, các bên không tự hòa giải được và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 6-2025 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà L kiên quyết yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm vợ chồng với ông H; từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đến nay, bà L và ông H vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng để quay lại chung sống với nhau; ông H không đưa ra được phương thức hòa giải tình cảm vợ chồng để bà L đồng ý hàn gắn tình cảm, tiếp tục chung sống. Vì vậy, yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà L với ông H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, cấp dưỡng: Bà L, ông H cùng xác định, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là Huỳnh Dư H1, sinh ngày 09-8-2022, hiện đang sinh sống cùng bà L, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, ông H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông H nên giao con chung Huỳnh Dư H1 cho bà L được trực tiếp nuôi dạy, ghi nhận sự tự nguyện của ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động; thời gian cấp dưỡng bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L, ông H cùng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông H không phải chịu án phí sơ thẩm, ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn ông Huỳnh Thanh H.
Về con chung, cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Trúc L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Dư H1, sinh ngày 09-8-2022. Ông Huỳnh Thanh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ tuổi thành niên.
Bà Nguyễn Thị Trúc L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Huỳnh Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
2. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002736 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A; bà L đã nộp đủ án phí.
Ông Huỳnh Thanh H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm; ông H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với nghĩa vụ cấp dưỡng) theo quy định.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Phương Nhung (Đã ký) |
Bản án số 95/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 95/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN Ly - Hưng
