Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/DS-ST

Ngày: 30-9-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Ngọc Anh
  2. Bà Đỗ Thị Giờ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 138/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V3). Trụ sở tại: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S A A, Phường B, Quận A, Tp .. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Ngọc N - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (có mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Văn Vủ L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp F, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang - nay là ấp F, xã V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/01/2022 Ngân hàng TMCP Q (V3) có ký với ông Bùi Văn V1 Lâm hợp đồng tín dụng số 1282181.22 và hợp đồng thế chấp số 7200148.22 với nội dung: Ngân hàng V3 cho ông Bùi Văn Vũ L1 vay với số tiền 748.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm bốn mươi tám triệu đồng); Mục đích vay: Vay mua ô tô mới nhãn hiệu HYUNDAI TUCSON, biển kiểm soát: 95A-080.51; Thời hạn vay: 96 tháng từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 17/01/2030; Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,1%/năm; Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kế từ Ngày giải ngân Khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,1%/năm; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 15; kỳ trả đầu tiên: 15/02/2022; số tiền trả mỗi kỳ: 7.790.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ; Trả nợ lãi: Vào ngày 15 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên vào ngày 15/02/2022; Trả phí: Theo quy định của V3 từng thời kỳ; Tài sản thế chấp: Xe ô tô nhân hiệu: HYUNDAI, số loại: TUCSON 2.0, biển kiểm soát: 95A-080.51, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95003178 do Phòng C1 công an tỉnh H cấp ngày 15/01/2022. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 17/01/2022, V3 đã giải ngân cho Ông Bùi Văn Vũ L1 với số tiền 748.000.000 đồng, theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ (KUNN) số 1282181.22 theo đúng yêu cầu của Ông Bùi Văn Vũ L1.

Ngày 29/06/2022 Ngân hàng TMCP Q đã ký với ông Bùi Văn V2 Lâm Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng TMCP Q đã đồng ý phát hành thẻ tín dụng VIB Rewards Unlimited cho Ông Bùi Văn Vũ L1 với hạn mức 50.000.000 đồng; lãi suất và phí: Theo bản chấp thuận về điều kiện và điều khoản sử dụng thẻ tín dụng.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Ông Bùi Văn Vũ L1 đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đến thời điểm 19/9/2025, Ông Bùi Văn Vũ L1 chỉ trả được 249.380.000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 216.594.356 đồng. Mặc dù Ngân hàng TMCP Q đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ, nhưng Ông Bùi Văn Vũ L1 vẫn không trả nợ. Khoản nợ của Ông Bùi Văn Vũ L1 đã chuyển sang quá hạn từ ngày 15/10/2024.

Nay Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết các yêu cầu của Ngân hàng, cụ thể:

Buộc ông Bùi Văn Vũ L1 trả cho Ngân hàng TMCP Q (ngay sau khi Bản án Quyết định có hiệu lực thi hành) số tiền tạm tính 30/9/2025 là 705.829.152 đồng, trong đó:

Đối với hợp đồng tín dụng số 1282181.22: Tổng cộng là 590.414.207 đồng, trong đó: Nợ gốc là 498.620.000 đồng; Nợ lãi quá hạn là 91.794.207 đồng.

Đối với đề nghị phát hành thẻ tính dụng: Tổng cộng là 115.414.945 đồng, trong đó: Nợ gốc là 70.011.828 đồng; nợ lãi trong hạn là 23.642.951 đồng; phí là 21.760.166 đồng.

Đề nghị Quý Tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, phí kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi Ông Bùi Văn Vũ L1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Trong trường hợp khi Ông Bùi Vân Vũ L2 không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng TMCP Q được quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Q là Xe ô tô nhân hiệu: HYUNDAI, số loại: TUCSON 2.0, biển kiểm soát: 95A-080.51, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95003178 do Phòng C1 Công an Tỉnh H cấp ngày 15/01/2022. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 7200148.22 ngày 14/01/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng TMCP Q. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì Ông Bùi Văn Vũ L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Bùi Văn Vủ L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được lời trình bày của ông Vũ L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 173 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

[1.1]. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Bùi Văn Vủ L trả nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn ông Bùi Văn Vũ L có nơi cư trú tại ấp F, xã V, thành phố Cần Thơ. Căn cứ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ.

[1.2]. Bị đơn ông Bùi Văn Vủ L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Vủ L nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của ông Vũ L theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Xét hợp đồng tính dụng 1282181.22 ngày 14/01/2022: Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V3) và ông Bùi Văn Vủ L có ký kết Hợp đồng tín dụng số 1282181.22 ngày 14/01/2022 và hợp đồng thế chấp số 7200148.22 ngày 14/01/2022. Căn cứ hợp đồng ngân hàng đã giải ngân cho ông Bùi Văn Vủ L với số tiền vốn là 748.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi tám triệu đồng). Sau khi nhận nợ thì ông Vủ L không

thực hiện nghĩa vụ đóng lãi cho ngân hàng, đến nay ông Vủ L không thanh toán nợ cho ngân hàng nên khoản vay này đã quá hạn. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì ông Vủ L còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền vốn là 498.620.000 đồng. Do ông Vủ L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2]. Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng thương mại cổ phần Q, xét thấy: Hợp đồng tín dụng số 1282181.22 ngày 14/01/2022 và hợp đồng thế chấp số 7200148.22 ngày 14/01/2022 thỏa thuận lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân: 9,1%/năm, Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ Ngày giải ngân Khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,1%/năm; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 15; kỳ trả đầu tiên: 15/02/2022; số tiền trả mỗi kỳ: 7.790.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ; Trả nợ lãi: Vào ngày 15 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên vào ngày 15/02/2022; Trả phí: Theo quy định của V3 từng thời kỳ. Ông Vủ L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông Vủ L phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận với số tiền là 91.794.207 đồng (Chín mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn hai trăm lẻ bảy đồng) là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2.3] Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Ông Vủ L đã vay tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Việc ông Vũ Lâm C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Vủ L trả tổng số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là 590.414.207 đồng (năm trăm chín mươi triệu bốn trăm mười bốn nghìn hai trăm lẻ bảy đồng), trong đó tiền vốn 498.620.000 đồng (bốn trăm chín mươi tám triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) và lãi quá hạn 91.794.207 đồng (Chín mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn hai trăm lẻ bảy đồng) là có căn cứ chấp nhận.

[2.4]. Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng nên bên vay là ông V1 lâm có ký kết hợp đồng thế chấp Xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI, số loại: TUCSON 2.0, biển kiểm soát: 95A-080.51, số khung: RLUJD81DBNN001201, số máy: G4NLMU954145, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95003178 do Phòng C1 công an tỉnh H cấp ngày 15/01/2022.

Hợp đồng thế chấp tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhằm để đảm bảo khả năng trả nợ của ông Vủ L cho Ngân hàng TMCP Q. Các bên cam kết thế chấp tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp và toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến Tài sản thế chấp mà bên thế chấp được hưởng/có thể được hưởng. Hợp đồng thế chấp trên do chủ thể luật định ký kết xác lập, tài sản thế chấp đúng chủ sở hữu, có giấy tờ đăng ký xe hợp pháp. Tại thời điểm ký kết đăng ký giao dịch bảo đảm các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan có thẩm quyền nên Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 7200148.22 ký ngày 14/01/2025 tại Ngân hàng TMCP Q có hiệu lực.

Như vậy, trong trường hợp ông Vủ L không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

[2.5]. Đối với Giấy đề nghị phát hành thẻ: Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Giữa Ngân hàng TMCP Q và ông Bùi Văn Vủ L có ký kết Đề nghị phát hành thẻ. Căn cứ hợp đồng ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông Bùi Văn Vủ L với hạn mức là 50.000.000 đồng. Sau khi sử dụng các giao dịch với số tiền là 70.011.828 đồng thì ông Vủ L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì ông Vủ L còn nợ Ngân hàng số tiền dư nợ là 70.011.828 đồng. Do ông Vũ L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.6]. Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng TMCP Q, xét thấy: Giấy đề nghị phát hành thẻ số 3020718 ngày 29/6/2022; Biểu phí và Điều khoản điều kiện V3 thỏa thuận lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân từ 1.63% đến 3.29%/ tháng. Ông Vủ L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông Vũ L phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2.7]. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên trong Giấy đề nghị phát hành thẻ là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Ông Vủ L đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề phát hành thẻ và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền theo hợp

đồng đã ký kết. Việc ông Vũ Lâm C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Vủ L trả tổng số tiền còn nợ theo hợp đồng là 115.414.945 đồng (một trăm mười lăm triệu bốn trăm mươi bốn nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng là có căn cứ chấp nhận.

Từ đó, có cơ sở buộc ông Vủ L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền còn nợ tổng cộng 115.414.945 đồng, trong đó: Nợ gốc là 70.011.828 đồng; nợ lãi trong hạn là 23.642.951 đồng; phí là 21.760.166 đồng

[2.6]. Như vậy, tổng số tiền mà ông Bùi Văn V1 L phải trả cho Ngân hàng TMCP Q đối với Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng phát hành thẻ là tổng cộng là 705.829.152 đồng, trong đó:

Đối với hợp đồng tín dụng số 1282181.22: Tổng cộng là 590.414.207 đồng, trong đó: Nợ gốc là 498.620.000 đồng; Nợ lãi quá hạn là 91.794.207 đồng.

Đối với đề nghị phát hành thẻ tính dụng: Tổng cộng là 115.414.945 đồng, trong đó: Nợ gốc là 70.011.828 đồng; nợ lãi trong hạn là 23.642.951 đồng; phí là 21.760.166 đồng.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Vủ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đông + 4% trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vượt quá 400.000.000 đồng được tính cụ thể như sau: 20.000.000 đồng + (305.829.152 đồng x 4%) = 32.233.166 đồng. Ngân hàng TMCP Q (V3) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 14.020.000 đồng theo lai thu số 0010528 phiếu lập ngày 10/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng 2024.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Bùi Văn Vủ L.
  2. Buộc ông Bùi Văn Vủ L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q (V3) tổng số tiền còn nợ tổng cộng 705.829.150 đồng, trong đó:

    Nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1282181.22 tổng cộng là 590.414.207 đồng (Nợ gốc là 498.620.000 đồng; Nợ lãi quá hạn là 91.794.207 đồng).

    Nợ thẻ tính dụng tổng cộng là 115.414.945 đồng (Nợ gốc là 70.011.828 đồng; nợ lãi trong hạn là 23.642.951 đồng; phí là 21.760.166 đồng).

  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  4. Trong trường hợp ông Vủ L không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp là Xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI, số loại: TUCSON 2.0, biển kiểm soát: 95A-080.51, số khung: RLUJD81DBNN001201, số máy: G4NLMU954145, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95003178 do Phòng C1 công an tỉnh H cấp ngày 15/01/2022.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn Vủ L phải chịu là 32.233.166 đồng. Ngân hàng TMCP Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 14.020.000 theo lai thu số 0010528 phiếu lập ngày 07/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Cần Thơ).
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật

thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận

  • - VKSND Khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - Phòng THADS Khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Thới Phần

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 95/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng K khởi kiện ông L yêu cầu trả số tiền vay còn nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger