Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/DS-PT

Ngày: 23/6/2025

V/v tranh chấp thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị An

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Nguyễn Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 tháng 5, 17 tháng 6 và từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 175/2025/TLPT- DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về "Tranh chấp di sản thừa kế” do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 267/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ông Mã Văn C, sinh năm: 1961

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).

+ Bị đơn:

1, Ông Mã Xuân T, sinh năm 1951.

Địa chỉ: Xóm K, xã K, Đ, Thái Nguyên, (có mặt).

2, Anh Mã Văn S, sinh năm 1980,

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn(có mặt tại phiên toà ngày 19/5/2025 và 23/6/2025, vắng mặt tại phiên toà ngày 17/6/2025)

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Ủy ban nhân dân huyện Đ

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trường T1 - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ. Địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

2, Bà Đinh Thị L, sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 12, thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

3, Bà Điệp Thị H, sinh năm 1951 (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên 4, Chị Hoàng Thị L1, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 12, thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

5, Bà Mã Thị V, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên 6, Bà Mã Thị T2, sinh năm1964 (vắng mặt tại phiên toà ngày 19/5/2025, có mặt tại phiên toà ngày 17/6/2025 và ngày 23/6/2025)

Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên,

7, Bà Mã Thị T3, sinh năm 1966 (vắng mặt tại phiên toà ngày 19/5/2025, có mặt tại phiên toà ngày 17/6/2025 và 23/6/2025)

Địa chỉ: Xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên8, Bà Mã Thị M, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã S, huyện X,tỉnh Đồng Nai,

9, Bà Lục Thị H1, sinh năm 1959 (vắng mặt).

10, Anh Mã Huy H2, sinh năm 1987(vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

11, Chị Mã Thị H3, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ E phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng,

- Người đại diện theo uỷ quyền của bà M, bà H1, anh H2, chị H3: Ông Mã Văn C, sinh năm: 1961

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).

12, Anh Mã Đức C1, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm A, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

13, Bà Đinh Thị C2, sinh năm 1951 (vắng mặt)

14, Anh Mã Văn G, sinh năm 1981 (vắng mặt)

15, Anh Mã Ngọc S1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Phúc Xuân, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

16, Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1958 (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm K, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Mã Văn C trình bày:

Bố mẹ ông là ông Mã Văn L3, sinh năm 1925, chết ngày 15/01/1995 và bà Đinh Thị D, sinh năm 1925, chết ngày 11/08/2002. Bố mẹ sinh được 08 người con gồm: Ông Mã Xuân T, sinh năm 1951; ông Mã Xuân T4, sinh năm 1954, chết ngày 31/ 2014 (có vợ là Đinh Thị C2 và các con là Mã Văn C3, Mã Văn G, Mã Văn S2); ông Mã Huy H4, sinh năm 1956, chết năm 2017 (có vợ là Lục Thị H1 và 02 con là Mã Huy H2 và Mã Thị H3); bà Mã Thị V; ông Mã Văn C; bà Mã Thị T2; bà Mã Thị T3; bà Mã Thị M. Ông L3 và bà D không có con nuôi, con riêng nào khác, không có bố mẹ nuôi; bố mẹ đẻ (là ông bà nội, ngoại của ông C) đều đã chết.

Ông T là anh cả nhưng không ở chung cùng bố mẹ và ra ở riêng từ năm 1970-1971. Ông C còn nhỏ ở với bố mẹ sau đó đi bộ đội, hết nghĩa vụ ông về ở với bố mẹ đến năm 1985 lên công tác và sinh sống tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Năm 1991 ông kết hôn với bà Đinh Thị L, sau đó vợ ông về ở cùng bố, mẹ, đến tháng 10/1993 mới chuyển công tác lên ở cùng chồng, bố mẹ ở một mình. Năm 1991 – 1992 ông T tự ý kê khai để được cấp sổ bìa xanh 02 lô đất rừng của bố mẹ, anh em khai phá, trồng cây mà có. Ngày 26/01/1993 khi bố, mẹ phân chia đất, ông T đã bỏ đi, không tham gia. Khi đó bố mẹ đã phân chia tài sản là đất trồng lúa, vườn, ao thành 05 phần: 04 phần cho 04 anh em trai để canh tác, còn lại 01 phần là của bố mẹ. Đối với đất rừng, năm 1993 bố mẹ, anh em đã họp chia đất rừng cho ông C và ông H4 tại khe đồi Thâm Mủn, ông T khu đồi Còi Trang + Cốc Lộc. Năm 1995 ông L3 chết, năm 2000 bà D lên huyện C ở. Năm 2001 ông T về nhà bố mẹ ở. Năm 2002, mẹ ông lại về nhà ở đến tháng 8/2002 thì bà D mất.

Bố mẹ không để lại di chúc, bản di chúc do ông T cung cấp đề ngày 02/01/1995 không phải chữ ký của ông L3 và việc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã K là không chính xác vì thời điểm đó, ông L3 đang ốm nặng, không thể tự đến Uỷ ban để xin dấu chứng thực được.

Sau khi bố mẹ chết, ông C và các anh em đều ở xa, ông T là người trông coi toàn bộ đất đai và tự ý kê đất ruộng, đất thổ cư, đất vườn vào sổ của ông T và con là anh S khi chưa được sự đồng ý của các anh, em trong gia đình.

Năm 2007-2008 ông T chặt gỗ ở bãi T, sau đó xin trồng K, ông T nói là đất đã được bố, mẹ đã chia cho từ năm 1992 và đã được Uỷ ban nhân nhân dân huyện giao đất thì anh, em mới biết. Năm 2009 gia đình có họp để thống nhất thoả thuận về đất ruộng và đất rừng. Tại biên bản họp gia đình ngày 21/8/2009, anh em đã thống nhất thoả thuận đất rừng tại tiểu khu B lô 87a, Ib có diện tích 3,57ha chia cho ông T và ông T4; bãi Thâm M tiểu khu B lô 94 có diện tích 1,63ha, theo bản đồ địa chính năm 2005 là thửa 108, diện tích 19.219,9m² chia cho ông H4 và ông C và thống nhất ông T phải trả lại ruộng cho ông C (thửa 327 = 140 m² đất) và trả lại rừng cho ông H4 và ông C; cháu S phải thanh toán tiền san mặt bằng của đất thổ cư cho ông C, nhưng sau đó ông T không thực hiện trả đất rừng, ruộng như đã thoả thuận.

Năm 2014 anh em có tranh chấp đất đồi rừng, Ủy ban nhân dân xã K đã tiến hành hoà giải nhưng không thành. Đến ngày 16/11/2016 ông T đã viết giấy chia đất rừng cho ông C, ông H4, có xác nhận của chính quyền địa phương nhưng

sau đó ông T không thực hiện như thoả thuận mới dẫn đến tranh chấp, đã kiện ra Toà án, sau đó rút đơn.

Ngày 20/4/2021 anh em làm biên bản phân chia đất thổ cư thành 6 phần, còn nhà sàn thì đưa ra bốc thăm; đất nông nghiệp ruộng chia thành 6 suất; đất lâm nghiệp chia thành 6 phần đồng đều nhau nhưng sau đó ông T không đồng ý, không thực hiện như thỏa thuận. Vì vậy, ông C khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, ông C yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 830678 mang tên ông Mã Xuân T và bà Điệp Thị H ngày 29/9/2014 đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ địa chính số 59 xã K; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 752.986 ngày 01/05/1997 của ông Mã Xuân T; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833282 ngày 03/9/2013 mang tên ông Mã Xuân T và bà Điệp Thị H; hủy Quyết định giao đất, giao rừng cấp cho ông Mã Xuân T số 912/QĐ-UB năm 1992; huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833291 ngày 03/9/2013 mang tên Mã Văn S và Hoàng Thị L1; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 576.105 ngày 08/5/2015 mang tên Mã Văn S. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông C rút yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông T, bà H và của vợ chồng anh S, chị L1 và rút yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.

Nay ông C yêu cầu ông T và anh S phải chia di sản của ông L3, bà D để lại, cụ thể:

* Đất thổ cư, đất vườn:

  • - Diện tích 1.315,5m² đất tại thửa số 90 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K, trong đó có 400m² đất thổ cư và 915,5m² đất trồng cây lâu năm (theo bản đồ 299 là thửa số 136 tờ bản đồ số 5) và 01 nhà sàn, nhà bếp, công trình phụ, sân xi măng có trên đất. Ông C yêu cầu lấy một phần đất có ngôi nhà sàn của các cụ xây dựng từ năm 1982 mà có.
  • - Diện tích 3.571,7m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 19 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa đất số 135 + 136 tờ bản đồ số 5). Ông C đề nghị toà xem xét phân chia cho ông T, bà V, bà T2, bà T3 theo quy định.

* Đất nông nghiệp:

  • - Diện tích 139,4m² đất trồng lúa nước tại thửa số 55 tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 188, tờ bản đồ số 5).
  • - Diện tích 81,9m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 56 tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa đất số 188, tờ bản đồ số 5).
  • Ông C yêu cầu chia cho bà V quản lý, sử dụng thửa 55 và thửa 56.
  • - Diện tích 817,4m² đất nuôi trồng thủy sản tại thửa số 129 tờ bản đồ 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 326 + 327 + 328, tờ bản đồ số 5). Ông T đang quản lý, sử dụng (đang có ao), đã được cấp Giấy chứng nhận mang tên ông Thường ngày 29/9/2014. Ông C yêu cầu chia bằng tiền, trong đó có thửa 327 có diện tích 140 m², ông C yêu cầu trả lại đất.
  • - Diện tích 676m² đất trồng lúa nước tại thửa số 133 tờ bản đồ 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 301, tờ bản đồ số 5). Ông C yêu cầu chia cho bà M và ông C quản lý, sử dụng.
  • - Diện tích 763,9m² đất trồng lúa nước tại thửa số 135, tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 292, tờ bản đồ số 5). Ông T đang quản lý, sử dụng. Ông C yêu cầu chia cho bà V quản lý, sử dụng.
  • - Diện tích 247,9m² đất trồng lúa nước tại thửa số 136 tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 752, tờ bản đồ số 5). Ông C yêu cầu chia cho anh C3 con ông T4 quản lý và sử dụng.
  • - Diện tích 140m² đất trồng lúa nước tại thửa số 421 tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa đất số 765, tờ bản đồ số 5). Ông C xác định không ai quản lý, sử dụng và yêu cầu chia cho bà T2 quản lý, sử dụng.
  • - Diện tích 590,9m² đất trồng lúa nước tại thửa số 73, tờ bản đồ số 59 xã K (theo bản đồ 299 là thửa số 34, tờ bản đồ số 5). Ông T đang quản lý, sử dụng. Ông C đề nghị chia cho con ông Mã Huy H4 quản lý, sử dụng.

* Đất lâm nghiệp:

  • - Diện tích 19.219,9m² tại thửa số 108 tờ bản đồ số 46 xã K (thuộc tiểu khu B lô 94a, IIb, diện tích 1,63ha). Nguồn gốc của bố mẹ khai phá, đất đứng tên ông T. Ông C yêu cầu chia 03 phần cho ông C, bà T3, bà M.
  • - Diện tích 36.953,4m² tại thửa số 100, tờ bản đồ số 46 xã K (thuộc tiểu khu B lô 87a, IIb, diện tích 3,57ha) có 1,63 đất rừng phòng hộ, trên đất có gỗ rừng trồng đã khai thác, gỗ tự nhiên vẫn còn. Ông C yêu cầu chia 05 phần cho ông T, ông T4, ông H4, bà V, bà T2.

Bị đơn ông Mã Xuân T trình bày:

Về mối quan hệ gia đình và thời điểm bố mẹ chết đúng như ông C trình bày. Khi lớn lên anh em mỗi người một nơi, người đi công tác, người đi lấy vợ, lấy chồng, ông C thì đi bộ đội, lấy vợ ở huyện C, tỉnh Bắc Kạn cho đến nay. Chỉ có vợ chồng ông ở chung, cùng hộ khẩu với bố mẹ và là người trực tiếp, thường xuyên trông nom, quản lý, sử dụng đất đai, ruộng vườn và công việc chung của gia đình.

Đối với đất đồi rừng, ông đã đi phát quang, trồng cây từ nhỏ năm 1962, sau khi đi bộ đội về năm 1992, bố mẹ đã cho vợ chồng ông, cho ông được kê khai đăng ký và được UBND huyện Đ quyết định giao đất, giao rừng số 912/QĐ-UB ngày 10/9/1992, từ đó ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng, trồng cây trên đất, không ai có ý kiến gì.

Năm 1991- 1992, sau khi Hợp tác xã không quản lý sử dụng, cụ L3, cụ D được nhận lại đất vườn, đất ruộng và ông cũng là người trực tiếp được nhận, thanh lý lấy tài sản là đất sân kho của Hợp tác xã sử dụng. Năm 1995 khi nhận thấy sức khoẻ yếu, ông L3 đã viết giấy phân chia đất ruộng cho 04 người con là Mã Xuân T, Mã Văn C, Mã Xuân T4, Mã Huy H4 (giấy chia ruộng đất chứng thực ngày 02/01/1995). Phần đất còn lại là nhà ở, sân, vườn trong đó có diện tích 1.060 m² đất tại thửa 292; 684 m² đất tại thửa số 301; 124m² đất tại thửa số 328; 88m² đất tại thửa số 326; 32m² đất tại thửa số 329; 44m² đất tại thửa số 330 tại xứ đồng Cốc K, 1 vườn trồng rau, 1 cái ao nhỏ, 1 đám ruộng tại xứ đồng Nà My và 01 số đồ dùng hàng ngày khác. Theo bản di chúc lập ngày 02/01/1995, ông L3 xác định khi còn khỏe thì ông, bà sử dụng, khi già yếu sẽ bàn giao cho cháu Ma Văn S3 trông nom đến khi 02 ông, bà qua đời anh S3 sẽ được hưởng số tài sản trên mãi mãi về sau.

Năm 2007- 2008, ông T khai thác gỗ và lá cọ ở bãi T, sau đó ông trồng Keo thì phát sinh tranh chấp. Ông C yêu cầu chia di sản của bố mẹ để lại nhưng ông không đồng ý vì một phần đất, nhà, vườn ruộng của bố, mẹ đã giao cho ông, cho cháu S3, phần vợ chồng ông khai phá, đổi đất với người khác mà có, không còn là di sản của bố mẹ để lại nữa. Ngày 21/8/2009, ngày 16/11/2016 và ngày 20/4/2021 anh, em trong gia đình đã nhiều lần hoà giải, đã đưa nhau ra Toà án giải quyết nhưng vẫn không thành. Nay ông T xác định:

* Về đất lâm nghiệp:

  • Thửa số 108 và thửa số 100 có nguồn gốc là của bố mẹ để lại và anh, em vợ chồng ông khai phá mà có. Năm 1992 bố mẹ đã cho vợ chồng, ông kê khai đăng ký và được UBND huyện Đ quyết định giao đất, giao rừng số 912/QĐ-UB ngày 10/9/1992. Ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng, trồng cây trên đất từ nhỏ cho đến nay không ai có ý kiến gì.

* Về đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp:

  • Thửa đất số 90 trong đó có 400m² đất thổ cư và 915,5m² đất trồng cây lâu năm (theo bản đồ 299 là thửa số 136, tờ bản đồ số 5) được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833282 mang tên Mã Xuân T và Điệp Thị H ngày 03/9/2013.
  • Thửa đất số 19 (theo bản đồ 299 là thửa số 135 + 136 tờ bản đồ số 5), trên đất có nhà sàn mái lá của bố mẹ để lại, tài sản, công trình xây dựng, cây trồng có trên đất của vợ chồng ông đang quản lý sử dụng.
  • Thửa đất số 55 và thửa đất số 56 (theo bản đồ 299 là thửa số 188 tờ bản đồ số 5) do vợ chồng ông khai phá, cải tạo đất ở ven suối N mà có.
  • Thửa đất số 129 (theo bản đồ 299 gồm các thửa đất số 326 + 327 + 328 + 329 tờ bản đồ số 5) là của vợ chồng ông khai phá và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 830678 mang tên Mã Xuân T và Điệp Thị H ngày 29/9/2014.
  • Thửa số 133 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 301 tờ bản đồ số 5) đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833291 mang tên Mã Văn S và Hoàng Thị L1 ngày 03/9/2013. Phần đất này do ông L3 để lại di chúc cho cháu S.
  • Thửa đất số 135 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 292 tờ bản đồ số 5) được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833291 mang tên Mã Văn S và Hoàng Thị L1 ngày 03/9/2013. Phần đất này do ông L3 để lại di chúc cho cháu S.
  • Thửa đất số 136 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 752 tờ bản đồ số 5) mang tên ông Đàm Đức B, nay mang tên ông Đàm Đức V1 và bà Nguyễn Thị L2 theo Giấy chứng nhận số BP 833022 ngày 30/8/2013. Do ông T và anh S đã đổi cho ông V1 mà có.
  • Thửa đất số 421 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 765 tờ bản đồ số 5) chưa được cấp GCNQSD đất;
  • Thửa đất số 73 (theo bản đồ 299 là thửa số 34 tờ bản đồ số 5) được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833291 mang tên Mã Văn S và Hoàng Thị L1 ngày 03/9/2013. Do ông L3 để lại di chúc cho cháu S.

Ông T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C về việc phân chia di sản thừa kế.

Bị đơn anh Mã Văn S trình bày:

Anh là con trai của ông T, là cháu của ông Mã Văn L3 và bà Đinh Thị D. Khi còn nhỏ anh ở cùng với bố mẹ, ông bà, đến khi trưởng thành anh đi làm, lấy vợ và ở huyện C, tỉnh Bắc Kạn cho đến nay. Khi ông bà ốm đau, anh cũng là người được chăm sóc ông bà. Năm 1995, anh được biết ông bà đã viết giấy phân chia đất ruộng cho 04 người con trai, còn cụ thể thế nào anh không biết. Phần đất còn lại theo bản di chúc lập ngày 02/01/1995 là nhà ở, sân, vườn, trong đó có diện tích 1.060m² đất tại thửa 292; 684m² đất tại thửa số 301; 124m² đất tại thửa số 328; 88m² đất tại thửa số 326; 32m² đất tại thửa số 329; 44m² đất tại thửa số 330 tại xứ đồng Cốc K, 1 vườn trồng rau, 1 cái ao nhỏ, 1 đám ruộng tại xứ đồng Nà My và 01 số đồ dùng hàng ngày khác khi 02 ông bà qua đời sẽ giao cho anh được hưởng mãi mãi về sau. Chính vì vậy, vợ chồng anh đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833290, số vào sổ CH 05604 ký ngày 03/9/2013 mang tên hộ ông Mã Văn S và bà Hoàng Thị L1 đối với thửa đất số 129 tờ bản đồ số 59. Năm 2018, anh chuyển nhượng diện tích đất này cho ông Mã Xuân T. Toàn bộ di sản anh nhận của ông L3, bà D để lại hiện nay anh đang để cho ông Mã Xuân T quản lý, sử dụng do anh đang đi làm xa nhà.

Toàn bộ số tài sản trên là của ông bà, không phải là tài sản do anh hay ai mua bán, tạo lập mà có. Bà D khi chết không để lại di chúc, tuy nhiên, khi ông L3 viết bản di chúc trên, 2 ông bà đều còn minh mẫn và toàn bộ tài sản đều do ông L3 định đoạt. Nay anh đề nghị thực hiện theo di chúc các cụ để lại. Không đồng ý theo yêu cầu của phía nguyên đơn.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Mã Thị V, bà Mã Thị T2, bà Mã Thị T3, bà Mã Thị M (đại diện theo uỷ quyền là ông C), bà Đinh Thị L thống nhất trình bày:

Về mối quan hệ gia đình và thời điểm bố mẹ chết đúng như ông C trình bày. Khi chưa đi xây dựng gia đình, các bà đều được trực tiếp tham gia phát đất đồi rừng, trồng cây, làm ruộng, vườn. Khi lớn lên, anh em mỗi người một nơi. Ông T đã tự ý làm thủ tục để được giao đất giao rừng, anh em không biết gì; việc ông T trình bày vợ chồng ông khai phá thửa đất ruộng có diện tích 139,4m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 55 và diện tích 81,9 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 56 là không đúng vì chính mấy chị em còn được cùng khai phá, trồng lúa, màu trên diện tích đất này. Đất vườn, đất sân kho do Hợp tác xã giải thể thì từng hộ gia đình đi nhận lại để quản lý, sử dụng, không phải do ông T mua mà có. Ông T trình bày các thửa đất vợ chồng ông T, bà H đứng tên trong Giấy chứng nhận đất có một phần do bố mẹ cho, một phần do vợ chồng ông bà khai phá, một phần bố, mẹ lập di chúc chia đất, nhà, ruộng, vườn, ao cho cháu S năm 1995, một phần đổi đất với ông V1 mà có là không đúng. Anh, em trong gia đình đã nhiều lần họp, thoả thuận phân chia di sản thừa kế như ông C đã trình bày nhưng không thành. Đề nghị Toà án phân chia đất như ý kiến của ông C.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Điệp Thị H, chị Hoàng Thị L1 trong quá trình giải quyết vụ án đều nhất trí như ý kiến quan điểm của ông T, anh S.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Mã Văn C3 vắng mặt tại phiên toà nhưng trong quá trình giải quyết cũng xin được hưởng một phần di sản của cụ L3, cụ D để lại mà bố anh (ông T4) nếu còn sống được hưởng. Cụ thể như thế nào theo ý kiến ông C yêu cầu, anh không có ý kiến gì thêm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đinh Thị C2, anh Mã Văn G, anh Mã Ngọc S1 vắng mặt tại phiên toà nhưng trong quá trình giải quyết đều không yêu cầu phân chia, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết phần di sản của cụ L3, cụ D để lại mà bố anh (ông T4) nếu còn sống được hưởng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lục Thị H1, anh Mã Huy H2, chị Mã Thị H3, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có người đại diện tham gia phiên toà và xin được hưởng một phần di sản của cụ L3, cụ D để lại mà ông H4 nếu còn sống được hưởng. Cụ thể như thế nào theo ý kiến ông C yêu cầu, không có ý kiến gì thêm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Đ do ông Trần Trường T1 đại diện theo uỷ quyền vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại văn bản số 1588/UBND-TNMT ngày 02/7/2021 xác định:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 830678, số vào sổ CH 06184, ký ngày 29/9/2014 mang tên hộ ông Mã Xuân T và bà Điệp Thị H được cấp đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833290, số vào sổ CH 05604 ký ngày 03/9/2013 mang tên hộ ông Mã Văn S và bà Hoàng Thị L1 đã cấp sai quy định của pháp luật. Diện tích 817,4 m² đất trồng lúa nước tại thửa 129 tờ số 14 bản đồ địa chính gồm diện tích các thửa 328, 329, 326, 327 tờ bản đồ số 05, bản đồ 299 xã K và một phần khai phá đất ven suối, trong đó có thửa đất số 327, tờ số 5 bản đồ 299, ông Mã Văn S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng sử dụng đất vì thửa đất này đã cấp cho ông Mã Văn C, giữa ông C và anh S có lập Hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng chưa thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định. Trong 817,4m² đất tại thửa đất số 129, tờ bản đồ số 14 bản đồ địa chính xã K có 140m² đất không thuộc quyền sử dụng đất của ông Mã Văn S mà thuộc quyền sử dụng đất của ông Mã Văn C. Vì vậy yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 830678 mang tên Mã Xuân T và Điệp Thị H ngày 29/9/2014 đối với thửa đất số 129 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K xã T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833290, số vào sổ CH 05604 ký ngày 03/9/2013 mang tên hộ ông Mã Văn S và bà Hoàng Thị L1 lả có căn cứ. Đề nghị Tòa án xem xét.

Đối với yêu cầu hủy Quyết định giao đất, giao rừng cấp cho ông Mã Xuân T số 912/QĐ-UB năm 1992 của UBND huyện Đ giao cho ông Mã Xuân T là đúng quy định của pháp luật, đúng đối tượng giao đất, giao rừng để trồng rừng, do vậy, yêu cầu hủy Quyết định giao đất, giao rừng cấp cho ông Mã Xuân T số 912/QĐ-UB năm 1992 là không có căn cứ. Đề nghị Toà án xem xét.

Với nội dung nêu trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Hoá đã xét xử và quyết định:

- Áp dụng Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 157, 158, 164,165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 14,17 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986; Điều 636, 637, 638, 677, 678, 679, 738, 740, 742 và Điều 743 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 631, 633, 634, 635, 674, 675, 676, 685 và Điều 733 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 609, 611, 612, 613, 616, 617, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông Mã Văn C.

2. Di sản thừa kế của cụ ông Mã Văn L3 và cụ bà Đinh Thị D ông C yêu cầu phân chia là quyền sử dụng đất có tổng giá trị là 1.075.926.700 đồng, trong đó phần di sản ông Mã Văn L3 di chúc chia cho anh S có giá trị là 72.711.100 đồng, di sản phân chia theo quy định của pháp luật có tổng giá trị là 1.003.215.600 đồng, (một tỉ không trăm linh ba triệu hai trăm mười lăm nghìn sáu trăm đồng).

Phần di sản là giá trị quyền sử dụng đất ông Mã Xuân T4 được hưởng có giá trị là 222.938.133 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu chín trăm ba mươi tám nghìn một trăm ba mươi ba đồng).

Phần di sản là giá trị quyền sử dụng đất ông Mã Văn C, Mã Thị V, Mã Thị T3, Mã Thanh T5, Mã Thị M, Mã Xuân T4, Mã Huy H4 được hưởng mỗi người có giá trị tương ứng với số tiền là 111.496.066 (một trăm mười một triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi sáu đồng).

3. Giao cho ông Mã Văn C được quản lý, sử dụng phần di sản thừa kế của cụ ông Mã Văn L3 và cụ bà Đinh Thị D để lại đối với diện tích 14.813,1 m² đất đồi rừng (không bao gồm phần đất có mộ của các cụ) tại thửa đất số 108 tờ bản đồ địa chính số 46 xã K, huyện Đ, tỉnh Thái nguyên, (thuộc tiểu khu B lô 94a, IIb) có giá trị là 162.944.100 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm đồng) và toàn bộ tài sản cây trồng có trên đất có giá trị là 45.820.000 đồng (bốn mươi lăm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) và có sơ đồ trích lục thửa đất kèm theo.

Ông Mã Văn C có trách nhiệm thanh toán cho ông Mã Xuân T tiền cây ông T trồng có trên đất có giá trị là 45.820.000 đồng (bốn mươi lăm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Ông Mã Văn C phải có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông được giao cao hơn so với kỷ phần ông được hưởng cho bà Mã Thị M là 51.477.434 đồng (năm mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi tư đồng).

4. Giao cho ông Mã Xuân T tiếp tục được được quản lý, sử dụng phần di sản thừa kế của cụ ông Mã Văn L3 và cụ bà Đinh Thị D để lại, cụ thể gồm có:

  • - Diện tích 1.315,5 m² đất, trong đó có 400 m² đất thổ cư và 915,5 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 90 tờ bản đồ địa chính số 14 xã K, (nay là tờ bản đồ số 59 xã K), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 136 tờ bản đồ số 5) có tổng giá trị là 197.282.500 đồng, (một trăm chín mươi bảy triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  • - Diện tích 3.571,7 m² đất trồng cây hàng năm tại thửa đất số 19 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 135 + 136 tờ bản đồ số 5) có giá trị là 153.583.100 đồng (một trăm năm mươi ba triệu lăm trăm tám mươi ba nghìn một trăm đồng) và toàn bộ tài sản, cây trồng có trên đất.
  • - Diện tích 36.953,4 m² đất đồi rừng (đất lâm nghiệp) tại thửa đất số 100 tờ bản đồ địa chính số 46 xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (thuộc tiểu khu B lô 87a, IIb, diện tích là 3,57 ha) có giá trị là 406.487.400 đồng (bốn trăm linh sáu triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm đồng) và toàn bộ tài sản, cây trồng có trên đất.
  • - Diện tích 139,4 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 55 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 188 tờ bản đồ số 5) có giá trị là 6.830.600 đồng (sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn sáu trăm đồng).
  • - Diện tích 81,9m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 56 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 188 tờ bản đồ số 5), có giá trị là 4.013.100 đồng (bốn triệu không trăm mười ba nghìn một trăm đồng).
  • - Diện tích 817,4 m² đất nuôi trồng thuỷ sản (hiện tại là ao) tại thửa đất số 129 tờ bản đồ địa chính số 14 xã K, (nay là tờ bản đồ số 59 xã K), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có giá trị là 40.052.600 đồng (bốn mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm đồng).
  • - Diện tích 140 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 421 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 765 tờ bản đồ số 5) có giá trị là 6.860.000₫ (sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ông Mã Xuân T phải có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông T được giao cao hơn so với kỷ phần thừa kế ông T được hưởng cho bà Mã Thị V, Mã Thị T3, Mã Thanh T5 mỗi người tương ứng với số tiền là 111.496.066 (một trăm mười một triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn không trăm sáu mơi sáu đồng) và có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là quyền sử dụng đất cho bà Mã Thị M là 60.049.232 đồng( sáu mươi triệu không trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm ba mươi hai đồng).

Ông Mã Xuân T phải có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản là quyền sử dụng đất đối với diện tích 140 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 421 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 765 tờ bản đồ số 5) có giá trị là 6.860.000₫ (sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) cho ông Mã Văn C.

Ông Mã Xuân T phải có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là quyền sử dụng đất cho vợ, con ông Mã Huy H4 là bà Lục Thị H1, chị Mã Thị H3, anh Mã Huy H2 mỗi người là 37.165.355 đồng (ba mươi bảy triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi lăm đồng).

5. Giao cho anh Mã Văn S và chị Hoàng Thị L1 tiếp tục được quản lý, sử dụng phần di sản thừa kế của cụ ông Mã Văn L3 và cụ bà Đinh Thị D để lại đối với diện tích 590,9 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 73 tờ bản đồ địa chính số 14 xã K, (nay là tờ bản đồ số 59 xã K), huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 34 tờ bản đồ số 5) có giá trị là 28.954.100 đồng (hai mươi tám triệu chín trăm lăm mươi tư nghìn một trăm đồng).

Anh Mã Văn S và chị Hoàng Thị L1 và phải phải có trách nhiệm liên đới thanh toán giá trị tài sản là quyền sử dụng đất cho con ông Mã Xuân T4 là anh Mã Văn C3 với số tiền là 27.874.016 đồng (hai mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi tư nghìn không trăm mười sáu đồng).

6. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của ông Mã Văn C đối với:

Diện tích 763,9 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 135 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K và diện tích 676 m² đất trồng lúa nước tại thửa đất số 133 tờ bản đồ địa chính số 59 xã K (theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số 301 tờ bản đồ số 5). Đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 833291 mang tên anh Mã Văn S và chị Hoàng Thị L1 ngày 03/9/2013.

Ông Mã Văn C, ông Mã Xuân T, anh Mã Văn S có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi xuất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về chi phí tố tụng; về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

[7.1]. Về chi phí tố tụng:

  • Ông Mã Văn C phải chịu 8.066.666 đồng (tám triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu sáu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông C đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  • - Ông Mã Xuân T và anh Mã Văn S mỗi người phải chịu 8.066.666 đồng (tám triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu sáu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản để hoàn trả cho ông Mã Văn C.
  • - Ông Mã Văn C phải chịu 7.500.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng) chi phí giám định. Ông Mã Văn C đã nộp đủ chi phí giám định.

[7.2]. Về án phí dân sự sơ thẩm.

  • - Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Mã Văn C, ông Mã Xuân T, bà Mã Thị V, bà Mã Thị T2, bà Lục Thị H1 do là người cao tuôi.
  • - Bà Mã Thị T3 và bà Mã Thị M mỗi người phải chịu 5.574.803 đồng (năm triệu lăm trăm bảy mươi tư nghìn tám trăm linh ba đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung quỹ nhà nước.
  • - Anh Mã Văn C3 phải chịu 1.393.700 đồng (một triệu ba trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung quỹ nhà nước.
  • - Anh Mã Huy H2, chị Mã Thị H3 mỗi người phải chịu 1.852.267 đồng (một triệu tám trăm lăm mươi hai nghìn hai trăm sáu bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung quỹ nhà nước.
  • - Anh Mã Văn S và chị Hoàng Thị L1 phải liên đới chịu 1.447.705 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm linh năm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra bản án còn tuyên về việc thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Mã Văn C, bị đơn ông Mã Xuân T và anh Mã Văn S, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà V, bà T3, bà T2 đều có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Trong đó, ông C kháng cáo với các nội dung:

Đề nghị xem, xét hiệu lực của bản di chúc mang tên ông Mã Văn L3; không đồng ý chia di sản bằng giá trị, đề nghị chia bằng hiện vật vì di sản có đủ điều kiện để chia; đề nghị xem xét phần diện tích còn lại của thửa đất trồng cây hàng năm theo GCNQSD đất mà ông T được cấp năm 1997 sau khi được cấp đổi năm 2013 thành thửa 90 và thửa 19 thì vẫn còn 1.620m² vẫn chưa được ông T cung cấp xem diện tích này nằm ở sổ nào; đề nghị xem xét di sản là ngôi nhà sàn và hơn 30 tấm gỗ của bố mẹ để lại hiện do ông T quản lý nhưng cấp sơ thẩm không giải quyết; đề nghị xem xét giá trị tài sản trên thửa đất 100 đã được định giá 366.907.392đ nhưng ông T đã khai thác hết, nay chia đất cho người nào thì người đó phải được hưởng giá trị tài sản trên phần đất mà mình được chia; đối với số cây ông T trồng trên thửa đất 108 đã được định giá 45.820.000đ nhưng sau khi thẩm định và định giá, ông T đã cắt tỉa một số cây nên đề nghị xem xét lại giá trị tài sản trên phần đất này; tổng giá trị cây trên thửa đất số 108 là 111.800.000đ,

ông T đã khai thác bán thì ông T phải hoàn trả vào khối di sản chung; đề nghị huỷ GCNQSD đất cấp năm 1997 cho ông T, huỷ GCNQSD đất cấp năm 2013 đối với thửa 90 và thửa 19 cho ông T và bà H, huỷ quyết định giao đất giao rừng năm 1992 của ông T; đề nghị xem xét giá trị công san ủi làm mặt bằng của ông C với số tiền 109.950.000đ khi chia di sản đối với khu đất thổ cư, ai được nhận phần đất này thì trả cho ông C số tiền ông đã bỏ ra thuê san ủi; đối với nhà ở và nhà bếp, không nhất trí án sơ thẩm xác định đã hết thời hiệu khởi kiện vì trong suốt quá trình giải quyết, các bên đều không yêu cầu áp dụng thời hiệu, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét để chia di sản là khối tài sản này theo hướng ai được quyền hưởng hiện vật thì thanh toán giá trị cho những người thừa kế khác theo giá đã được định giá, trong đó nhất trí ông T được hưởng tương ứng 02 phần; đề nghị ông T trả cho ông C 140m² đất tại thửa 327 nay thuộc thửa 129; trường hợp công nhận di chúc thì đề nghị xác định ông L3 chỉ có quyền định đoạt ½ tài sản, tương ứng với diện tích 1.104m² gồm các thửa: 133, 421, 129; ½ tài sản còn lại tương ứng với diện tích 1.011,8m² thuộc quyền định đoạt của bà D, gồm thửa 135 và thửa 136; đề nghị chia di sản là diện tích đất 1.417,8m² không có trong di chúc gồm các thửa: 73, 55, 56, 127 và diện tích còn lại của thửa 129 (389,4m²) cùng với phần di sản của bà D, chia thành 9 phần, trong đó ông T được hưởng 02 phần; không nhất trí án sơ thẩm tuyên phần chi phí tố tụng cho các đương sự vì bản thân ông T đã khai thác hết gỗ nên đã được hưởng lợi thì ông T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, đề nghị được thanh quyết toán bằng hoá đơn, chứng từ về các khoản chi phí tố tụng để đối chiếu với các biên bản giao nhận tiền cho đầy đủ, rõ ràng, minh bạch.

Ông Mã Xuân T và anh Mã Văn S kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông C về việc đề nghị chia di sản thừa kế.

Bà Mã Thị T3, bà Mã Thị V và bà Mã Thị T2 kháng cáo đề nghị xem xét hiệu lực của di chúc, huỷ các GCNQSD đất liên quan đến các thửa đất là di sản của bố mẹ để lại để chia thừa kế theo quy định của pháp luật và đề nghị chia bằng hiện vật đối với di sản là đất, còn đối với nhà ở thì ai được sử dụng sẽ thanh toán giá trị cho những người thừa kế khác theo giá trị đã được định giá; đề nghị chia số gỗ lát khét, gỗ dổi trong nhà thành 8 phần vì ông C không lấy, đề nghị xem xét về chi phí tố tụng vì ông T đã hưởng lợi khai thác tài sản nên việc tuyên buộc người khác phải chịu chi phí tố tụng là không phù hợp

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của các đương sự, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm vì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các đương sự kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người đại diện theo uỷ quyền của UBND huyện Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Điệp Thị H, chị Hoàng Thị L1, anh Mã Văn C3, anh Mã Ngọc S1, anh Mã Văn G, bà Đinh Thị C2, bà Nguyễn Thị L2 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt; bà Mã Thị M, bà Lục Thị H1, anh Mã Huy H2, chị Mã Thị H3 vắng mặt nhưng có người đại diện theo uỷ quyền là ông C có mặt tham gia tố tụng . Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Về nội dung:

Nguyên đơn ông C đề nghị Toà án chia thừa kế theo quy định của pháp luật đối với toàn bộ các thửa đất gồm: đất ở, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp (đất đồi rừng), cây cối trên 02 thửa đất lâm nghiệp và nhà sàn + hơn 30 tấm gỗ là các tài sản của bố mẹ là cụ Mã Văn L3 và cụ Định Thị D1 để lại; đề nghị không công nhận hiệu lực của bản di chúc mang tên ông Mã Văn L3 ngày 02/01/1995 và đề nghị huỷ các Giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông T và tên anh S đối với các thửa đất là di sản của cụ L3 và cụ D1.

Bị đơn ông T và anh S đề nghị công nhận hiệu lực của di chúc và xác định không còn di sản để chia, toàn bộ những diện tích đất đã được cấp GCNQSD cho gia đình ông T và anh S đều là hợp pháp nên không nhất trí chia thừa kế.

Bản án sơ thẩm công nhận di chúc và chia các tài sản không có trong di chúc cho các đương sự theo quy định của pháp luật, riêng thửa đất số 73 (đất lúa) không có trong di chúc nhưng bản án nhận định do ông T đã cho con trai là anh S kê khai và được cấp GCNQSD nên vẫn giao cho vợ chồng anh S tiếp tục sử dụng.

Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:

[1]. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét, làm rõ để nhận định khối tài sản mà cụ L3 và cụ D1 đã tạo lập được trong quá trình chung sống gồm những gì, căn cứ nào để xác định quyền sử dụng hợp pháp của cụ L3 và cụ D1? Trong số những tài sản mà các đương sự tranh chấp, có phần nào thuộc QSD của bị đơn hoặc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần tách khỏi di sản không? Những tài sản nào đã được người để lại di sản định đoạt? Cụ thể, đối với những thửa đất được nêu trong bản di chúc của cụ L3, nếu cho rằng di chúc có hiệu lực thì cần tách biệt những tài sản nào được chia theo di chúc, trên cơ sở đó mới có căn cứ để xác định di sản còn lại gồm những gì? Bản án của Toà sơ thẩm nhận định mang tính chất lan man, liệt kê từng thửa theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhiều chỗ không rõ ý, không có sự tổng hợp, khái quát theo hướng phân tích như trên dẫn đến khó hiểu, luẩn quẩn, không thể hiện được quan điểm của Hội đồng xét xử.

Mặt khác, khi xem xét hiệu lực của bản di chúc, án sơ thẩm căn cứ vào kết quả giám định của V2 Bộ C4 và nhận định: Tuy trưởng xóm không ký xác nhận vào bản di chúc, nhưng bản chất là cụ L3 đã viết di chúc để phần tài sản của cụ L3, cụ D1 cho cháu S....Cách nhận định như vậy mang tính chất phiến diện, không căn cứ vào các yếu tố pháp lý để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của bản di chúc. Lẽ ra, cần phải đánh giá về hình thức và nội dung của di chúc có phù hợp với quy định của pháp luật hay không, di chúc hợp pháp hay không hợp pháp thì mới có cơ sở để xác định việc phân chia di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

[2]. Trường hợp xác định có di sản thì cần xem xét, nhận định những di sản đó hiện đã được cấp giấy tờ về quyền sử dụng, quyền sở hữu cho ai chưa. Cần phân biệt những tài sản được cấp giấy tờ theo di chúc và những tài sản được cấp do kê khai, do nhận chuyển quyền và đánh giá tính hợp pháp của các giấy tờ đã được cấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, việc Toà án cấp sơ thẩm ra Thông báo thụ lý yêu cầu huỷ quyết định cá biệt theo đơn yêu cầu của nguyên đơn là không đúng vì đây không phải là yêu cầu khởi kiện trong vụ án hành chính, việc nguyên đơn yêu cầu huỷ các GCNQSD và huỷ Quyết định giao đất liên quan đến di sản của cụ L3 và cụ D1 chỉ được coi là yêu cầu cần được xem xét khi giải quyết vụ án chứ không phải là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập để thụ lý thành một quan hệ pháp luật riêng biệt.

Như đã phân tích ở trên, lẽ ra, khi xem xét về QSD đất theo các GCNQSD đất đã cấp, Toà án cần đánh giá hiệu lực pháp lý của những giấy tờ này, nếu có căn cứ huỷ và thấy cần thiết phải huỷ thì phải xác định thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nếu có căn cứ huỷ nhưng không cần thiết phải huỷ thì chỉ nhận định và tuyên buộc người được cấp GCN, người đang quản lý GCNQSD đất phải nộp lại GCNQSD đất tại cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký biến động QSD đất theo quy định. Trong vụ án này, Toà án cấp sơ thẩm ra Thông báo thụ lý yêu cầu huỷ quyết định cá biệt đã là không đúng nhưng thậm chí sau khi thụ lý lại không đánh giá, xem xét, giải quyết gì về các GCNQSD đất đã cấp cho gia đình ông T và vợ chồng anh S. Bản án quyết định giao QSD các thửa đất cho đương sự mà không nhận định, đề cập gì về các GCNQSD liên quan đến những thửa đất được UBND huyện Đ có ý kiến xác định cấp không đúng và đề nghị huỷ GCNQSD đất. Trong phần nhận định, bản án có nêu nguyên đơn rút yêu cầu huỷ GCNQSD đất và rút yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản nên Toà án không xem xét là không đúng với diễn biến giải quyết vụ án vì hồ sơ thể hiện, phía nguyên đơn không rút yêu cầu huỷ GCNQSD đất, cũng không khởi kiện về quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hại tài sản nên việc nhận định như vậy là không đúng.

[3]. Trong số các thửa đất mà nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế, có một số thửa đất trồng lúa (thửa 55, 56, 421) hiện chưa được cấp GCNQSD cho ai nhưng cấp sơ thẩm cũng không xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ những thửa đất này có thuộc QSD hợp pháp của cụ L3 và cụ D1 hay không, lý do vì sao chưa được cấp GCNQSD? Trên cơ sở đó mới có căn cứ để xác định đây có phải là tài sản hợp pháp của cụ L3 và cụ D1, nay là di sản của hai cụ hay không thì mới đủ điều kiện để chia thừa kế.

[4]. Đối với thửa số 19 ( đất trồng cây hàng năm) được UBND huyện Đ xác định có nguồn gốc 1 phần do cụ L3 và cụ D1 khai phá, một phần do ông T và bà H khai phá, một phần là sân kho HTX (BL 595) nhưng cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ, bởi nếu có căn cứ như văn bản của UBND huyện đã nêu thì phải xem xét, thẩm định tại chỗ để tách riêng diện tích từng phần cụ thể để làm căn cứ xác định phần nào là di sản, phần nào thuộc QSD của ông T. Hồ sơ vụ án cũng không thu thập GCNQSD đất thửa 19 mà vẫn chia thửa này cho ông T được quyền sử dụng là chưa đủ căn cứ vững chắc, chưa đảm bảo về thu thập chứng cứ.

[5]. Toà án cấp sơ thẩm có tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng không đo hiện trạng các thửa đất trồng lúa và đất nuôi trồng thủy sản để đối chiếu với bản đồ địa chính xem có phù hợp với thực tế hay không (trên hiện trạng có tồn tại thửa đất ở vị trí như trên bản đồ địa chính hay không) và có biến động gì so với bản đồ địa chính không. Hồ sơ vụ án chỉ thể hiện có trích lục bản đồ địa chính, không có bản trích đo hiện trạng để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Bản án chỉ căn cứ vào diện tích đất có trên bản đồ và GCNQSD đất để chia cho các đương sự. Đối với các thửa đất có đo hiện trạng nhưng khi tuyên giao QSD cho các đương sự thì diện tích không trùng với diện tích có trên bản đồ địa chính nhưng Bản án cũng không có trích lục sơ đồ kèm theo là không đảm bảo cho việc thi hành bản án.

Tại cấp phúc thẩm, các đương sự không nhất trí xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung nên HĐXX không có căn cứ để khắc phục thiếu sót này cho cấp sơ thẩm.

[6]. Án sơ thẩm xác định tổng giá trị di sản nhưng không nhận định giá trị đó được tính gồm những tài sản gì, nói cách khác, không xác định tổng giá trị đó là tính trên cơ sở của những tài sản nào và cũng không nhận định vì sao ông C phải thanh toán giá trị cho ông T và bà M, ông T phải thanh toán giá trị cho bà V, bà T3, bà T2, bà H1, chị H3, anh H2.

[7]. Một mặt, bản án nhận định có căn cứ để chia thừa kế nhưng mặt khác lại nhận định tài sản là ngôi nhà sàn trên đất đã hết thời hiệu khởi kiện nên không giải quyết. Tại bản di chúc của cụ L3 có đề cập đến việc định đoạt ngôi nhà sàn, bản án nhận định theo hướng công nhận di chúc nhưng lại tách phần tài sản này ra khỏi di chúc và áp dụng thời hiệu khởi kiện, đồng nghĩa với việc không công nhận phần tài sản là ngôi nhà sàn được nêu trong di chúc. Nhận định và giải quyết như vậy là mâu thuẫn, luẩn quẩn. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Trong trường hợp này, các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, do đó, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện dẫn đến không giải quyết về tài sản là ngôi nhà trên đất là không đúng.

[8]. Đối với thửa đất số 73, án sơ thẩm xác định không có trong di chúc của cụ L3 nhưng do ông T đã cho vợ chồng anh S kê khai và đã được cấp GCNQSD đất nên tiếp tục giao cho anh S và chị L1 được QSD thửa đất này và liên đới thanh toán giá trị cho anh C3 là không có căn cứ bởi lẽ, anh S không thuộc diện được hưởng thừa kế của cụ L3 và cụ D1, nếu xác định di chúc hợp pháp thì trong di chúc cũng không có thửa đất này nên việc anh S kê khai và được cấp GCNQSD đất là không đúng, cần giải quyết theo hướng nhận định thửa đất này có thuộc QSD của cụ L3 và cụ D1 hay không? Nếu có thì cần xác định đây là di sản được chia theo pháp luật, chia cho người thuộc diện được hưởng thừa kế và buộc anh S, chị L1 phải nộp GCNQSD đất tại cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký biến động sang tên cho người được chia theo quyết định của bản án.

[9]. Đối với thửa đất số 136 mà gia đình bà L2 đang quản lý, sử dụng, án sơ thẩm nhận định do ông T đã đổi đất cho gia đình ông Đàm Đức B, nay GCNQSD mang tên ông Đàm Đức V1 là con ông B, ông V1 hiện đã chết và bà L2 vợ ông V1 đang sử dụng nhưng cũng không làm rõ ông T đổi thửa đất nào của gia đình mình cho gia đình bà L2. Hơn nữa, bản án nhận định cần tính giá trị thửa đất số 136 mà gia đình bà L2 đang sử dụng để chia thừa kế nhưng trong phần quyết định lại không đề cập, giải quyết gì về nội dung này.

[10]. Đối với thửa đất lâm nghiệp số 108 chia cho nguyên đơn ông C và buộc nguyên đơn thanh toán giá trị cây trên đất cho bị đơn nhưng lại không tuyên nguyên đơn được quyền sở hữu cây trên đất. Hơn nữa, án nhận định hiện trạng diện tích thửa này có 15.687,7m², trừ đi phần đất có mộ 558,3m² và trừ đi 313,6m² hành lang đường nhưng trên sơ đồ bản trích đo hiện trạng không thể hiện 313,6m² là vị trí nào; đồng thời, ngay trong phần diện tích 15.687,7m² trên sơ đồ cho thấy có phần diện tích vượt quá ranh giới bản đồ địa chính và cũng có phần bị thiếu so với bản đồ địa chính nhưng Toà sơ thẩm không làm rõ những diện tích nào đủ điều kiện để được công nhận và diện tích còn thiếu thì như thế nào, bản án chỉ công nhận theo hiện trạng và giao cho ông C diện tích 14.813,1m² là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, ông C kháng cáo cho rằng sau khi thẩm định và định giá thửa đất này, ông T đã cắt tỉa bớt cây nên giá trị hiện tại không còn như trước. Toà án sơ thẩm không xem xét, làm rõ tại thời điểm xét xử, tài sản trên thửa đất này có còn nguyên vẹn như trước đó không, nếu lời khai của ông C là có căn cứ thì phải trừ giá trị phần cây đã cắt và xác định giá trị còn lại ông C được quyền sở hữu là bao nhiêu vì liên quan đến việc thanh toán giá trị tài sản trên đất cho người khác.

[11]. Đối với tài sản là cây trên thửa đất số 100, án sơ thẩm nhận định có một phần là rừng tự nhiên, 1,63ha đất rừng phòng hộ, toàn bộ diện tích là rừng hỗn giao, có cây trồng và cây mọc tự nhiên, hiện nay có một phần không được khai thác. Tổng giá trí cây được định giá là 366.907.392đ. Ông T hiện đang quản lý, trông coi khu rừng trên. Bản án nhận định thửa đất này là di sản thừa kế, không phải là tài sản của ông T, trong phần Quyết định đã giao đất và toàn bộ tài sản trên đất cho ông T và chỉ buộc ông T thanh toán giá trị QSD đất cho những người thừa kế khác mà không xem xét về giá trị cây trên đất để xác định phần nào là di sản, phần nào là tài sản thuộc sở hữu của ông T là không đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế khác.

[12]. Về công san ủi thửa đất thổ cư, tại đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày 03/02/2021 (bút lục 157) ông C yêu cầu tính giá trị ông đã thuê người san ủi làm mặt bằng với tổng số tiền 109.950.000đ nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã không yêu cầu ông C cung cấp tài liệu, chứng cứ và cũng không nhận định, xem xét, đánh giá yêu cầu này của ông C là có căn cứ hay không.

[13]. Quá trình giải quyết vụ án, ông C yêu cầu chia di sản là số gỗ tấm để trong nhà sàn do bố mẹ để lại. Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/6/2021 thể hiện, trong ngôi nhà sàn hiện có 18 tấm gỗ (bút lục 181), bị đơn ông T cho rằng đó là gỗ của ông, không phải của bố mẹ để lại. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét, nhận định và giải quyết về số tài sản này cũng là thiếu sót.

[14]. Đối với thửa đất lâm nghiệp số 108, tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông T cung cấp bản sao Quyết định thu hồi số 61/QĐ-UBND ngày 26/10/2023 của UBND huyện Đ về việc thu hồi 136,5m² đất tại thửa 108 để thực hiện Dự án công trình cải tạo, sửa chữa Hồ Suối M1 và xác định gia đình ông có được nhận tiền đền bù cây trên phần đất bị thu hồi. Nguyên đơn ông C đề nghị làm rõ số tiền đền bù là bao nhiêu để đưa vào khối di sản. Nội dung này cần được xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ việc thu hồi có đền bù, GPMB cho chủ sử dụng đất không? Nếu có thì ai là người nhận đền bù, số tiền bồi thường GPMB là bao nhiêu? Đây là tình tiết mới, nếu khắc phục tại cấp phúc thẩm thì ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự.

[15]. Về nội dung ông C kháng cáo liên quan đến chi phí tố tụng, theo các biên bản giao nhận chi phí có trong hồ sơ vụ án thể hiện tổng số tiền nguyên đơn nộp là 47 triệu đồng nhưng bản án chỉ nhận định và tuyên tổng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ + chi phí định giá tài sản là 24,2 triệu đồng và 7,5 triệu đồng chi phí giám định là chưa đầy đủ; đồng thời, chỉ buộc nguyên đơn và bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là không chính xác. Cần buộc tất cả những người được hưởng thừa kế cùng phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản. Ông C kháng cáo cho rằng ông T đã khai thác hết gỗ nên đã được hưởng lợi thì ông T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là không có căn cứ bởi lẽ, cần phải phân biệt giữa giá trị di sản với chi phí tố tụng, đây là hai nội dung hoàn toàn khác nhau, không thể bù trừ cho nhau được. Tuy nhiên, về việc ông C kháng cáo đề nghị được quyết toán chi phí tố tụng, thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án, Toà sơ thẩm có nhiều lần tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và phải thuê cơ quan chuyên môn để xác định trữ lượng gỗ trên đất lâm nghiệp, đồng thời phải trưng cầu giám định chữ ký theo yêu cầu của ông C, toàn bộ chi phí phát sinh từ những nội dung này là có thật, hồ sơ thể hiện Toà án có lập biên bản giao nhận các khoản tạm ứng chi phí tố tụng nhưng sau khi thực hiện các hoạt động tố tụng nêu trên đã không lập biên bản quyết toán đầy đủ với người đã nộp tạm ứng để đối chiếu với các khoản chi phí thực tế, chỉ có hai mã quyết toán với ông C (bút lục 508 và bút lục 635) với tổng số tiền 23 triệu đồng dẫn đến việc ông C thắc mắc là có cơ sở. Với các tài liệu liên quan đến chi phí tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cấp phúc thẩm không có căn cứ để khắc phục nội dung này cho cấp sơ thẩm.

[16]. Về đường lối giải quyết chia di sản thừa kế, nếu xác định có căn cứ chia thừa kế theo pháp luật thì với diện tích các thửa đất trong vụ án này cho thấy, hoàn toàn có đủ điều kiện để chia bằng hiện vật. Việc toà sơ thẩm nhận định cho

rằng chia bằng hiện vật gây khó khăn cho việc sử dụng đất là không đúng. Theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 định như sau:

“……… Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”

Như vậy, cần phải hiểu nếu đủ điều kiện để chia di sản bằng hiện vật và những người thừa kế có yêu cầu thì phải chia bằng hiện vật chứ không phải do người nào đang quản lý thì tiếp tục được chia bằng hiện vật và thanh toán giá trị cho người thừa kế khác theo cách chia của Toà án sơ thẩm.

[17]. Về tố tụng: Bản án xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ L3 và cụ D1 gồm 08 người con, trong đó ông T4 và ông H4 đã chết nên những người thừa kế là vợ, con của ông T4 và ông H4 được xác định là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng. Trong số những người được hưởng thừa kế, anh Mã Văn G và anh Mã Đức C1 là con của ông T4 có bản tự khai (bút lục 315, 331) đều thể hiện quan điểm được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật, đề nghị được hưởng bằng tiền hoặc bằng hiện vật; riêng bà Đinh Thị C2 (vợ ông T4) và anh Mã Ngọc S1 (là con ông T4) mặc dù có tên trong bản án nhưng hồ sơ vụ án không có bất cứ lời khai nào của hai người này và cũng không có tài liệu nào thể hiện bà C2 và anh S1 đã được triệu tập tham gia tố tụng. Mặc dù hồ sơ thể hiện như trên nhưng bản án lại nhận định anh C1 yêu cầu được lấy giá trị, còn bà C2, anh G và anh S1 không có yêu cầu gì nên chia cho anh C1 được hưởng giá trị di sản đối với phần của mình, giao phần thừa kế của bà C2, anh G và anh S1 cho ông T tiếp tục quản lý và giành quyền khởi kiện cho họ bằng vụ án khác. Việc không đưa bà C2 và anh S1 vào tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đồng thời, việc nhận định họ không có yêu cầu gì cũng như cho rằng anh C1 chỉ yêu cầu được nhận giá trị là không đúng với ý chí của đương sự và không đúng với thực tế hồ sơ vụ án. Hơn nữa, việc giành quyền khởi kiện bằng vụ án khác trong khi không xác định rõ phần tài sản giao cho ông T quản lý liên quan đến quyền thừa kế của những người này gồm những gì là không có cơ sở.

Đối với bà Nguyễn Thị L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, hồ sơ thể hiện: Bà L2 không được triệu tập tham gia tố tụng, không có bất cứ lời khai nào trong quá trình giải quyết vụ án. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và lời khai của các đương sự cho thấy, gia đình bà L2 hiện đang quản lý thửa đất số 136 là thửa được ông T xác định đã đổi cho gia đình bà L2 - ông V1. Bà L2 và ông V1 đã được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất này. Hiện ông V1 đã chết, lẽ ra, cần phải đưa bà L2 và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V1 vào tham gia tố tụng để làm rõ việc đổi đất như thế nào và gia đình bà L2 có yêu cầu độc lập trong vụ án hay không nhưng cấp sơ thẩm đã không thực hiện. Tại cấp phúc thẩm, ông C vẫn yêu cầu giải quyết về thửa đất mà ông cho rằng ông T đã tự ý đổi cho gia đình ông V1 – bà L2, nội dung này chưa được giải quyết tại cấp sơ thẩm nên nếu khắc phục tại cấp phúc thẩm thì ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn vi phạm về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Cụ thể: Vụ án được thụ lý ngày 29/01/2019, đến ngày 23/7/2021, Toà án có lập biên bản phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên họp này có sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn ông T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà V, bà T3, bà H và người đại diện theo uỷ quyền của bà M và bà L là ông C. Đối với bị đơn ông S, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T2, chị L1 và UBND huyện Đ vắng mặt nhưng hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện họ đã được triệu tập tham gia phiên họp và hoà giải. Tại phiên hoà giải và công khai chứng cứ nêu trên, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác chưa được đưa vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án có phát sinh thêm rất nhiều tài liệu, chứng cứ mới và có thêm những người có quyền lợi, nghĩa vụ khác tham gia tố tụng nhưng Toà án không tiến hành mở lại bất kỳ phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nào để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án chỉ lập biên bản làm việc với nguyên đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà V, bà T3, bà M, bà T2, bà L về việc họ không yêu cầu mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải; đối với tất cả các đương sự khác, không có tài liệu nào thể hiện ý chí của họ về việc họ không đề nghị mở phiên họp và hoà giải. Do vậy, việc không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để các đương sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình là vi phạm tố tụng.

Với những phân tích trên đây, xét thấy kháng cáo của các đương sự là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm và có một số vi phạm của cấp sơ thẩm không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm, có nội dung khắc phục được nhưng ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự nên HĐXX thấy cần phải huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

[18]. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Được xác định khi giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[19]. Chi phí tố tụng: Được xác định lại khi giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm.

[20]. Xét đề nghị của đại diện VKS về việc huỷ bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Mã Văn C, bị đơn ông Mã Xuân T, anh Mã Văn S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mã Thị T3, bà Mã Thị V và bà Mã Thị T2.

1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện Định Hoá để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Được xác định khi giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

4. Chi phí tố tụng: Được xác định lại khi giải quyết lại vụ án tại cấp sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Định Hoá, TN (kèm HSVA);
  • - Chi cục THADS H.Định Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế

  • Số bản án: 95/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mã Văn Cương - Mã Xuân Thường - Tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger