Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/DS-PT

Ngày: 11 – 6 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum

Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh

Bà Đinh Thị Quý Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đào Thị T - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 tháng 5 và 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025TLPT-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 57/2025/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 14A/2025/QĐPT-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 36/TB-TA ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 21/2025/QĐPT-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Minh D, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Bùi Thủy T1, sinh năm: 1984, địa chỉ cư trú: tổ A, khu phố T, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vũ Gia K, sinh năm 1972, địa chỉ cư trú: 2 D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  1. Người kháng cáo: Bị đơn bà Bùi Thủy T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 3 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Minh D trình bày:

Ông D là em rể của bà Bùi Thủy T1. Ông D có cho bà T1 vay tiền rất nhiều lần đến ngày 17/3/2023 thì chốt lại bà T1 viết giấy vay nợ ông D số tiền 1.320.000.000 đồng và đến ngày 23/3/2023 ông D cho bà T1 vay thêm 500.000.000 đồng. Sau đó cần trừ số tiền 25.000.000 đồng còn lại 1.795.000.000 đồng. Do quan hệ chị vợ, em rể nên khi cho bà T1 vay tiền, ông D đưa tiền mặt trực tiếp cho bà T1, không làm giấy tờ gì cho đến ngày 17/4/2023 bà T1 tự viết giấy chốt nợ cho ông D và chụp hình gửi qua zalo xác nhận số tiền nợ. Sau khi chốt nợ thì bà T1 hẹn 10 tháng sẽ trả tiền cho ông D. Hai bên không thỏa thuận lãi. Tuy nhiên, hết 10 tháng bà T1 không trả nên ông D liên hệ bà T1 nhiều lần để đòi nợ nhưng bà T1 nói bà T1 đang khó khăn quá và tắt máy không nghe điện thoại nên ông D khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Bùi Thủy T1 phải trả số tiền 1.795.000.000 đồng theo giấy chốt nợ. Ông D có vợ là bà Bùi Thị Thùy T2 nhưng số tiền 1.795.000.000 đồng cho bà Bùi Thủy T1 vay là tiền riêng của ông Ngô Minh D, không phải tài sản chung của vợ chồng ông D, bà T2.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Bùi Thủy T1 và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Vũ Gia K trình bày:

Bà T1 không đồng ý với nội dung đơn khởi kiện của ông Ngô Minh D bởi những lý do như sau: giữa bà T1 và ông D không có hợp đồng vay tài sản, giấy viết tay ông D cung cấp có ghi chữ viết của bà T1 nhưng không có ghi nội dung nợ ông D hay người nào khác. Đối với vi bằng ông D cung cấp do bà T1 có nhiều zalo nên không nhớ nội dung tin nhắn như ông D cung cấp. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà T1 cho rằng bà T1 bị tạm giữ điện thoại tại Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương nên những nội dung trong vi bằng không xác định được có phải của bà T1 hay không. Ông K thừa nhận chữ viết tay trong vi bằng là chữ viết, chữ kí của bà T1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Minh D về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bà Bùi Thủy T1.

Buộc bà Bùi Thủy T1 trả cho ông Ngô Minh D số tiền 1.795.000.000 (Một tỷ bảy trăm chín mươi lăm triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 12 năm 2024 bị đơn bà Bùi Thủy T1 có đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa toàn bộ bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Vi bằng số 688/2024/VB-TPL ngày 23/11/2024 của Văn phòng T3, ông Nguyễn Hồng V, sinh năm 1973; trú tại khu phố C, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước trình bày:

Ông V ở gần nhà bà T1 và vào khoảng giữa năm 2023, bà T1 có chuyển cho ông V số tiền 1.500.000.000 đồng để trả cho ông Ngô Minh D. Ông V giao cho ông D 700.000.000 đồng tại nhà của ông V, sau đó ông V lấy tiền bỏ vào túi nilon màu xanh có in chữ S như trong Facebook ông D đăng. Số tiền còn lại ông V đã trả cho bà T1.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2025, người làm chứng ông Nguyễn Hồng V trình bày: Hiện tại, ông V không nhớ về sự việc hôm đưa tiền cho ông D, sự việc vay tiền của ông D và bà T1 ông V không biết, ông V chỉ đi cùng bà T1 ra lập vi bằng, còn lại ông V không tham gia gì thêm. Ông V khẳng định ông V có nhận khoảng 1.500.000.000 đồng của bà T1 để đưa cho ông D, ông V đưa một lần khoảng 700.000.000 đồng trực tiếp vào túi màu xanh của Ngân hàng cho D, còn lại 800.000.000 đồng ông Vũ B trên nắp capo sau xe trong nhà như hình ảnh trong vi bằng. Lúc đưa tiền có một người nhưng ông V không nhớ là ai.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 09/4/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng bà Võ Thị D1 trình bày:

Bà D1 là mẹ ruột của Bùi Thủy T1 và là mẹ vợ của Ngô Minh D. Bà D1 là người chứng kiến việc ông D cho bà T1 vay tiền, vào thời gian nào thì bà D1 không nhớ chính xác nhưng lúc đó có bà D1, vợ chồng D và T1; bà D1 là người kêu bà T1 ghi giấy nợ và bà D1 khẳng định giấy nợ đó đúng với hình ảnh mà ông Ngô Minh D cung cấp vì sau khi viết xong giấy nợ, bà T1 chụp hình gửi qua cho ông D nhưng vì tin tưởng nên ông D không cầm bản giấy mà chỉ có hình ảnh do bà T1 gửi qua điện thoại.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 09/4/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng ông Bùi Văn D2 trình bày:

Ông D2 là bố ruột của bà T1 và là bố vợ của ông Ngô Minh D, ông D2 là người có mặt trong bức hình mà ông D đăng trên Facebook, ông D xác định ngày hôm đó ông ra garage của ông Vũ N vì bình thường ông D2 hay ra tiệm sơn của ông V ngồi uống cà phê và một lát sau ông D và vợ chạy xe xuống đưa tiền cho ông D2 để nhờ ông mang về nhà cất dùm.

Tại Vi bằng số 153/2025/VB-TPLVN ngày 26/5/2025 tại Văn phòng T4, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Đức D3 xác nhận: Sáng ngày 26/3/2023, ông Lê Đức D3 có giao cho bà Bùi Thủy T1 1.200.000.000 đồng tiền mặt và vào buổi trưa cùng ngày, ông Lê Đức D3 giao cho ông Nguyễn Hồng V số tiền 700.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Vũ Gia K và bị đơn bà Bùi Thủy T1 thống nhất xác định đến ngày 23/3/2023, bà Bùi Thủy T1 có nợ ông Ngô Minh D số tiền 1.795.000.000 đồng như giấy ghi nợ, nhưng sau đó bà T1 đã trả cho ông D 1.200.000.000 đồng vào sáng ngày 26/6/2023 tại nhà của bà T1 và bà T1 nhờ ông Nguyễn Hồng V trả cho ông D 700.000.000 đồng vào buổi chiều ngày 26/6/2023 tại garage sửa xe của ông V, tổng cộng là 1.900.000.000 đồng. Việc trả tiền này được ông D chụp hình và đăng trên mạng xã hội Facebook của ông D ngày 26/6/2023. Bà T1 cung cấp bản gốc giấy ghi nhận nợ giữa ông D và bà T1, bà T1 xác nhận tất cả chữ

viết trong giấy là của bà; một số nội dung được bà T1 ghi thêm để bà T1 nhớ sau khi trả tiền cho ông D.

Nguyên đơn ông Ngô Minh D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn Bùi Thủy T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố dân sự. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thủy T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thủy T1 thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thủy T1 thấy rằng:

Bà T1 đề nghị sửa Bản án sơ thẩm vì cho rằng Bản án sơ thẩm không công bằng; bà T1 cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho phần trình bày của mình tại cấp phúc thẩm là Vi bằng lập ngày 23/11/2024 của Văn phòng T3, tỉnh Bình Dương ghi nhận sự kiện ông Nguyễn Hồng V trình bày về việc trả tiền của bà T1, theo đó ông V xác nhận có giao cho ông D 700.000.000 đồng vào một ngày giữa năm 2023; Vi bằng lập ngày 26/5/2025 của Văn phòng T4, Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận sự kiện ông Lê Đức D3 xác nhận sáng ngày 26/3/2023 ông D3 có đưa cho bà T1 1.200.000.000 đồng và bà T1 dùng số tiền này trả cho ông D tại nhà của bà T1, đến trưa cùng ngày ông D3 tiếp tục giao cho ông V 700.000.000 đồng để ông V trả cho ông D giúp bà T1.

Tại phiên tòa, bà Bùi Thủy T1 thừa nhận có vay ông Ngô Minh D số tiền 1.795.000.000 đồng như giấy ghi nhận nợ mà Tâm giao nộp nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, nên có căn cứ xác định bà Bùi Thủy T1 vay ông Ngô Minh D số tiền 1.795.000.000 đồng.

Bà T1 cho rằng bà đã trả hết tiền cho ông D, thậm chí nhiều hơn số tiền bà thiếu, cụ thể bà đã trả 1.900.000.000 đồng, trong đó trả nợ cho ông D 1.795.000.000 đồng, nhờ bà T2 đóng bảo hiểm nhận thọ 65.000.000 đồng, còn lại bà T1 cho con của ông D. Tuy nhiên, tại Vi bằng ngày 23/11/2024 và biên bản ghi lời khai ngày 08/5/2025, ông Nguyễn Hồng V xác định giao cho ông D 700.000.000 đồng nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh, cũng như ông V xác định không nhớ sự việc, không nhớ thời gian trong khi ông D không thừa nhận, tấm hình ông D đăng trên mạng xã hội Facebook ngày 26/6/2023 không thể hiện ông V giao tiền cho ông D, ngược lại người có mặt trong bức ảnh là ông Nguyễn Văn D4 xác định ngày hôm đó ông D đi công việc ghé ngang gửi tiền cho ông D4 mang về nhà cất dùm ông D. Tương tự, ông D3 xác định ngày 26/3/2023 ông có giao cho bà T1 1.200.000.000 đồng để bà T1 trả cho ông D tại nhà bà T1 nhưng tấm hình không thể hiện được việc bà Tâm giao tiền cho ông D, trong khi đó ông D không thừa nhận và bà D1 là mẹ ruột của bà T1 ở chung nhà với bà T1 xác định đó là số tiền ông D mang đến, chính bà D1 còn nói “sao nhiều tiền quá”. Bên cạnh đó, ông D đăng các tấm hình trên mạng xã hội Facebook ngày 26/6/2023 trong khi ông D3 giao tiền cho bà T1 và ông V ngày 26/3/2023, ông V giao ngay trong ngày cho ông D là có mâu thuẫn, nên phần trình bày của bà T1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên yêu cầu kháng cáo của bà T1 là không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà T1 không được chấp nhận nên bà T1 phải chịu theo quy định pháp luật.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thủy T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Căn cứ các điều 280, 357, 404, 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Minh D về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn bà Bùi Thủy T1.

Buộc bà Bùi Thủy T1 phải trả cho ông Ngô Minh D số tiền 1.795.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm chín mươi lăm triệu đồng).

  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thủy T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số 0004681 ngày 30 tháng 12 năm 2024.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.(11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Nhum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 95/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vat tài sản ngo minh dương - bùi thủy tâm ct
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger