|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 95/2024/HSST Ngày: 29-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh
Ông Vũ Khắc Hoàn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Huy Cường- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 09/TB-TA ngày 20/8/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Chí T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03/8/1993 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn H, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Đinh Thị M. Vợ: Nông Thị C; Có 01 con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị bắt ngày 16/5/2024 hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Nguyễn Thanh T1. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03/4/1996 tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân H(đã chết) và bà Trần Thị H1. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 07/8/2018 TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 04/11/2021 chấp hành xong bản án. Bị bắt ngày 16/5/2024 hiện tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Nguyễn Thị D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13/02/1947 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn H, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D1 (đã chết). Chồng: Đặng Văn L; có 04 con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 25/5/2024, có mặt.
*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D: bà Mai Thị L1- Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q- có mặt.
*Bị hại:
- Công ty TNHH X. Địa chỉ: Số E đường K, phường N, quận B, Hà Nội.
- Công ty Cổ phần X. Địa chỉ: Tầng I tòa nhà T đường Q, phường Y, quận H, Tp Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T3. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Có đơn xin xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Thủy Phúc Đ. Địa chỉ: C Đê L, phường Ô, quận Đ, Tp Hà Nội. Có đơn xin xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị M1. Địa chỉ: thôn H xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
*Người làm chứng: Lê Anh T4. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 15/5/2024, tại khu công nghiệp A thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 trộm cắp của công ty TNHH X 05 cột sắt hàng rào, 02 tấm phên sắt và 02 thanh sắt hộp trị giá 2.852.550 đồng và bán cho Nguyễn Thị D 1.100.000 đồng nhưng Nguyễn Thị D không biết tài sản do trộm cắp mà có.
Ngày 16/5/2024, tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 trộm cắp của công ty Cổ phần X lồng sắt hố ga trị giá 4.590.000 đồng và bán cho Nguyễn Thị D 2.167.000 đồng. Nguyễn Thị D biết rõ tài sản trên do T, T1 trộm cắp.
Tại bản cáo trạng số 1581/CT-VKSQY ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù kể từ ngày bắt; áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 06(sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12(mười hai) tháng đến 18(mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 khai: Bị cáo T và T1 có quan hệ quen biết xã hội. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, T rủ T1 đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu, T1 đồng ý. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14T6-2774 của chị gái là Nguyễn Thị M1, chở T1 đi đến khu vực tường rào của công ty TNHH X thuộc khu công nghiệp A tại thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh thấy có những cột sắt hàng rào dùng để đổ trụ bê tông không có người trông coi. Cả hai thống nhất T ngồi trên xe cảnh giới, nổ máy chờ sẵn còn T1 xuống bê 01 cột sắt lên xe. Sau đó T và T1 chở đến bán cho bà Nguyễn Thị D (hàng xóm của T) ở thôn H, xã S, thị xã Q, cân được 21kg nhưng chưa lấy tiền. T và T1 quay lại vị trí cũ, trộm cắp được 02 cột sắt chở đến bờ đê thôn H, xã S cất giấu và tiếp tục quay lại trộm cắp 02 cột sắt, 02 thanh sắt hộp, 02 tấm phên sắt, mang đến bờ đê để T1 trông, còn T điều khiển xe về nhà đổi lấy xe Wave (không biển kiểm soát, chuyên chở hàng của T) chở toàn bộ tài sản vừa trộm cắp đến nhà bà Nguyễn Thị D bán với giá 8.500 đồng/kg. Tổng số sắt bán là 130,5kg, thành tiền 1.109.500 đồng (một triệu một trăm linh chín nghìn năm trăm đồng), T và T1 lấy tròn 1.100.000 đồng, chia nhau mỗi người 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn đồng). Khi bán không nói cho bà D biết là tài sản trộm cắp.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, T tiếp tục rủ T1 đi trộm cắp. T điều khiển xe mô tô Wave không biển kiểm soát chở T1 đến công trường công ty Cổ phần X thuộc khu Công nghiệp Đ, khu T, phường Đ, thị xã Q, cả hai khiêng 01 lồng sắt hố ga, kích thước (1,2x0,75x1)m, được đan bằng nhiều thanh sắt phi 10 rồi chở đến nhà Nguyễn Thị D bán. Thấy T, T1 mang sắt đến bán vào ban đêm, Nguyễn Thị D hỏi sắt ở đâu thì T nói “lấy trộm ở Đ, xa lắm không phải ở gần đây, không ai biết đâu”, D đồng ý mua. Sau đó, T và T1 quay lại vị trí cũ trộm cắp thêm hai lần vào khoảng 02 giờ 50 phút và 03 giờ 30 phút cùng ngày 16/5/2024, mỗi lần 01 lồng sắt hố ga chở về nhà Do. Tổng 03 lồng sắt hố ga cân được 255kg, giá 8.500 đồng/01kg, thành tiền là 2.167.000 đồng (hai triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). T chia cho T1 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Số tiền bán tài sản do trộm cắp mà có, T và T1 đã chi tiêu cá nhân hết.
Bị cáo Nguyễn Thị D khai: bị cáo quen T vì là hàng xóm, bị cáo không quen biết T1. Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 15/5/2024 T đi xe mô tô màu trắng cùng 1 thanh niên(sau này biết là T1) bán cho bị cáo 01 trụ bằng sắt cân được 21kg nhưng không lấy tiền ngay, sau đó T chở thêm 04 trụ nữa và 02 tấm đan bằng sắt, 02 thanh sắt hộp, tổng cộng được 130,5kg. Bị cáo mua với giá 1.100.000đồng (một triệu một trăm nghìn đồng), khi mua không hỏi nguồn gốc sắt ở đâu. Đến khoảng 02 giờ 12 phút ngày 16/5/2024 T và T1 tiếp tục mang đến bán lần lượt 03 khối sắt buộc kiên cố hình chữ nhật, tổng 255kg giá 2.167.000đồng (hai triệu một trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng). Bị cáo D thấy bán nửa đêm nên nghi ngờ hỏi nguồn gốc thì T bảo lấy trộm ở phường Đ. Tuy nhiên do thấy rẻ nên bị cáo vẫn mua.
Kết luận định giá tài sản số 27/KL-ĐGTS, ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, kết luận: 05 cột sắt hàng rào, 02 tấm phên sắt, 02 thanh sắt hộp có tổng trị giá 2.852.550 đồng (Hai triệu tám trăm năm mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng); 03 lồng sắt hố ga tổng trị giá 4.590.000 đồng (Bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).
Bị hại Công ty TNHH X khai khoảng 13 giờ ngày 15/5/2024 công ty phát hiện mất một số vật liệu xây dựng ở công trường công ty tại khu công nghiệp A xã S. Công ty đã kiểm đếm xác định tài sản bị mất gồm: 05 cột sắt hàng rào dài 0,3m, đường kính 1,5cm, nặng 21,5kg; 02 tấm phên sắt kích thước (0,9 x0,9)m; 02 thanh sắt hộp. Công ty đã trích xuất camera phát hiện 02 thanh niên lấy trộm lúc 11 giờ 26 phút ngày 15/5/2024, trong đó có 1 người là Nguyễn Chí T là nhân viên cũ của công ty. Công ty đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
Bị hại Công ty cổ phần X khai: khoảng 07 giờ ngày 16/5/2024, công ty phát hiện mất 03 lồng sắt hố ga kích thước (1,2 x 0,75 x 1)m được đan bằng nhiều thanh sắt phi 10 tại khu vực thi công hố ga của công ty X thuộc khu T, phường Đ, thị xã Q nên đã trình báo công an. Nay công ty đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Người làm chứng Lê Anh T4 khai: anh T4 là nhân viên an toàn của công ty X, sau khi thi công xong tại bãi gia công hố ga, khoảng 20 giờ ngày 15/5/2024 công nhân về nghỉ. Đến khoảng 7 giờ ngày 16/5/2024, anh được báo và kiểm tra thấy mất 03 lồng sắt hố ga, cân nặng khoảng 80kg 1 lồng nên đã làm đơn trình báo công an phường Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M1 khai: xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14T6-2774 do chị mua lại của chị Bùi Thị Lan H2. Ngày 15/5/2024 bị cáo T tự ý lấy xe của chị để chở bị cáo T1 đi trộm cắp tài sản, chị không biết. Nay chị đã nhận lại xe, không yêu cầu gì.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D nhất trí với tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố với bị cáo D, song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo D, gồm: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi đã trên 70 tuổi, thái độ khai báo thành khẩn quy định tại các điểm h, i, o, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.
Kết quả trích xuất camera an ninh của thôn E xã S thể hiện nam thanh niên đội mũ trắng mặc áo cộc tay, quần sooc điều khiển xe moto HONDA Wave màu trắng chở 1 nam thanh niên mặc áo cộc tay tối màu, quần sooc, đằng sau là 01 trụ sắt, di chuyển trên đường bê tông theo hướng từ thôn G đến thôn C Sông K. Các bị cáo T, T1 xác nhận T là người điều khiển xe chở T1 đang trên đường vận chuyển số sắt đến nhà bị cáo Do tiêu thụ.
Biên bản khám xét ngày 16/5/2024 tại nơi ở của bị cáo Do thu giữ 03 lồng sắt hố ga và 05 cột sắt hàng rào,02 tấm phên sắt,02 thanh sắt hộp, bị cáo D khai mua của các bị cáo T, T1.
Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định vị trí các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp ngày 15/5/2024 là công trường thi công hố trụ tường rào của công ty TNHH X thuộc khu công nghiệp A xã S, thị xã Q; vị trí các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp ngày 16/5/2024 là công trường thi công đổ đáy hố ga của công ty cổ phần X thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra. Các bị cáo thừa nhận đã lợi dụng sơ hở không có người trông coi tài sản, cùng nhau thực hiện trộm cắp các cột sắt, thanh sắt, lồng sắt của công ty X và công ty X đem bán cho bị cáo Nguyễn Thị D để lấy tiền tiêu xài, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 7.442.550 đồng (bảy triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm năm mươi đồng). Trong đó, ngày 15/5/2024 bán được 1.100.000đồng, ngày 16/5/2024 bán được 2.167.000đồng, bị cáo T được chia 1.717.000đồng, bị cáo T1 được chia 1.550.000đồng và đã chi tiêu cá nhân hết.
Các bị hại đều khai xác nhận thời gian, địa điểm,tài sản bị trộm cắp phù hợp với lời khai của các bị cáo. Do được phát hiện kịp thời nên đã thu hồi toàn bộ tài sản trả cho các bị hại.
Bị cáo Nguyễn Thị D không hứa hẹn, không thỏa thuận trước với các bị cáo T, T1 về việc tiêu thụ tài sản, song biết là tài sản do trộm cắp mà có và vẫn đồng ý mua 03 lồng sắt hố ga vào ngày 16/5/2024 với giá 2.167.000đồng.
Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, trích xuất camera thu giữ, trên cơ sở kết quả định giá tài sản, thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 15/5/2024, tại khu công nghiệp A thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 có hành vi trộm cắp 05 cột sắt hàng rào, 02 tấm phên sắt và 02 thanh sắt hộp trị giá 2.852.550 đồng của công ty TNHH X. Ngày 16/5/2024, tại khu công nghiệp Đ thuộc phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 có hành vi trộm cắp 03 lồng sắt hố ga trị giá 4.590.000 đồng của công ty Cổ phần X. Ngày 16/5/2024 Nguyễn Thị D mua 255kg sắt của Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 với giá 2.167.000 đồng, khi mua biết rõ là tài sản do T, T1 trộm cắp.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Thị D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu, quản lý và sử dụng tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các công ty tại khu công nghiệp, không chỉ ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư. Các bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ham lời bất chính, cùng lén lút chiếm đoạt tài sản, tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có nên cần thiết phải xử lý nghiêm.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công. Bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị phương tiện (xe mô tô) và cùng trực tiếp thực hiện hành vi, hưởng lợi nhiều hơn nên giữ vai trò chính, phải chịu mức hình phạt cao hơn. Bị cáo T1 giữ vai trò thực hành, hưởng lợi ít hơn nên mức hình phạt thấp hơn.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội đã ngoài 70 tuổi, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có chồng được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, o khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T, T1 thực hiện hành vi phạm tội 2 lần trong 2 ngày nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị D đã có hành vi tiêu thụ tài sản trộm cắp có giá trị 2.167.000 đồng, tội phạm đã hoàn thành, việc mua bán đã kết thúc, bị cáo đã nhận hàng, giao tiền, do đó không có căn cứ xác định bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại như quan điểm của luật sư bào chữa. Xét thấy bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét không cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội mà để cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xin được giảm nhẹ hình phạt.
[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo khách quan, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về phần bồi thường dân sự và vật chứng của vụ án: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với số tiền 1.100.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị D mua sắt ngày 15/5/2024 nhưng không biết là tài sản trộm cắp, bị cáo D không yêu cầu nên không xem xét.
Số tiền 3.267.000đồng là tiền do phạm tội mà có cần buộc các bị cáo Nguyễn Chí T và Nguyễn Thanh T1 nộp lại sung ngân sách, trong đó bị cáo T nộp lại 1.717.000đồng, bị cáo T1 nộp lại 1.550.000đồng.
Về vật chứng: chị Nguyễn Thị M1 đã nhận lại 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14T6-2774 nên không đề cập.
01 xe mô tô Honda Wave, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu,cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
02 điện thoại di động Mobell thu của Nguyễn Chí T và Nguyễn Thị D; 01 cân đồng hồ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[5]. Về hình phạt bổ sung, án phí: các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: các bị cáo T1, T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định, bị cáo D là người cao tuổi nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1.
Áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị D.
Tuyên bố: Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Nguyễn Thị D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Xử phạt: Nguyễn Chí T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/5/2024.
Nguyễn Thanh T1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/5/2024.
Nguyễn Thị D 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12(mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 63/2024/LCCT-TA-HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 93/2024/QĐ-TA ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên đối với bị cáo Nguyễn Thị D.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động Mobell kèm theo sim điện thoại, 01 cân đồng hồ loại 100kg (tình trạng như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên); tịch thu của bị cáo Nguyễn Thanh T1 1.550.000đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Chí T 1.717.000đồng (một triệu bảy trăm mười bảy nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điều 136, điều 331, điều 333, khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Chí T, Nguyễn Thanh T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị D.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Vũ Thị Thanh |
Đỗ Thị Duyên |
|
Vũ Khắc Hoàn |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Duyên |
Bản án số 95/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 95/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí Thành cùng đồng phạm Trộm cắp tài sản
