Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HSST

Ngày 23 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Cửu Hưng;
  2. Bà Lương Thị Thùy Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: D L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Minh K, sinh ngày 04/6/1998, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S, sinh năm: 1974 và bà Hồ Thị T, sinh năm: 1975; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; Vợ con: Chưa có.

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 29/01/2018, Công an huyện C, tỉnh Quảng Trị, xử phạt, Lê Minh K: 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

2. Thái Doãn Đ, sinh ngày 16/3/2000, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thái Doãn X, sinh năm: 1977 và bà Mai Thị T1, sinh năm: 1978; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ con: Chưa có.

Tiền án: 01 (Một). Ngày 10/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt Thái Doãn Đ: 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 23/12/2023, Đ chấp hành xong án phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 05/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác). Có mặt tại phiên tòa.
  • Lê Minh Hoàng H, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác). Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Khoảng 12 giờ ngày 27/03/2024, Thái Doãn Đ (Đức) nhắn tin qua ứng dụng Zalo với Lê Minh K (K) để rủ K mua ma túy hồng phiến về cùng sử dụng. Do bận trông quán (Quán Nguyên H1; địa chỉ khu phố E, thị trấn C, huyện C) nên K từ chối, biết K thường mua ma túy để sử dụng nên Đ nhờ K mua hộ cho Đ 300.000.000 đồng ma túy loại hồng phiến, K đồng ý và yêu cầu Đ “Sang Quán đưa tiền cho K và trông quán để K đi mua”. Khoảng 10 phút sau, Đ đến đưa cho K 300.000 đồng, K nhận tiền và nói Đ ngồi trông quán để K đi mua ma túy.

Kỳ liên lạc qua điện thoại với Nguyễn Ngọc D, địa chỉ: Hẻm A D, Phường E, thành phố Đ, hỏi mua 400.000 đồng ma túy hồng phiến, chuyển khoản 200.000 đồng, còn 200.000 đồng đưa tiền mặt (K giấu Đ mua thêm 100.000 đồng ma túy), D đồng ý.

Kỳ sang Siêu thị L ở cạnh, đưa cho nhân viên siêu thị 210.000 đồng để nhờ chuyển 200.000 đồng vào tài khoản của K (10.000 đồng còn lại là phí chuyển khoản). Khi có tiền trong tài khoản, K chuyển vào tài khoản của D 200.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74G1-158.55 (xe của anh Lê Xuân N) đến nhà của D, K đứng bên ngoài cửa sổ nhà D đưa 200.000 đồng vào bên trong thì Lê Minh Hoàng H, sinh năm 1996; trú tại: Khu phố A, phường E, thành phố Đ đang ngồi trong phòng, nhận tiền và đưa lại cho K một gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy hồng phiến. Kỳ cất giấu ma túy vào túi áo bên trái đang mặc rồi điều khiển xe trở lại Quán. Khi đi ngang qua nghĩa trang P, thành phố Đ thì bị lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

(2) Vật chứng thu giữ:

2.1 Thu giữ của Lê Minh K: 13 viên nén hình trụ màu hồng và 01 viên nén hình trụ màu xanh được gói trong mảnh giấy bạc; 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy J7 Prime, có gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 74G1-158.55.

2.2 Thu giữ của Thái Doãn Đ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23, có gắn thẻ sim.

(3) Xét nghiệm chất ma túy đối với người sử dụng ma túy: K và Đ đều dương tính với ma túy Methamphetamin

(4) Tại bản Kết luận giám định số: 447/KL-KTHS ngày 03/04/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - 13 viên nén hình trụ, màu hồng, gửi đến giám định, có khối lượng: 1,2264 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.
  • - 01 viên nén hình trụ, màu xanh, gửi đến giám định, có khối lượng: 0,0893 gam. Không tìm thấy chất ma túy trong viên nén màu xanh.

(5) Cáo trạng số 95/CT-VKS-ĐH ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố các bị cáo Lê Minh K và Thái Doãn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

(6) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lê Minh K và Thái Doãn Đ, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Đ áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Minh K: Từ 13 đến 15 tháng tù; Thái Doãn Đ: Từ 15 đến 17 tháng tù.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 02 chiếc điện thoại di động.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người làm chứng không có khiếu nại gì.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện vào trưa ngày 27/3/2024, lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ, khẳng định: Ngày 27/3/2024, Lê Minh K tàng trữ (Cất giấu trong túi áo đang mặc) 1.2264gam ma túy loại Methamphetamine; Ma túy K tàng trữ có nguồn gốc: Kỳ mua hộ cho Thái Doãn Đ 300.000 đồng để Đ sử dụng trái phép, K giấu Đ mua thêm 100.000 đồng ma túy để K sử dụng trái phép. Do đó, K phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ khối lượng ma túy đang tàng trữ (1,2264gam ma tuý, loại Methamphetamine); Đ chỉ chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy nhờ K mua hộ, tương ứng ¾ khối lượng ma túy Kỳ đang tàng trữ (0,9198gam ma túy, loại Methamphetamine).

Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Minh K và Thái Doãn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lí các chất ma túy mà còn gây tác hại đến bản thân và gia đình nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi lượng hình, thấy:

(3.1) Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn. Cụ thể: Bị cáo Đ là người khởi xướng mua ma túy để cùng nhau sử dụng nhưng bị K từ chối, thì Đ lại nhờ K mua hộ; bị cáo K mua hộ ma túy cho Đ sử dụng còn mua riêng để K sử dụng mà Đ không biết nên K và Đ có vai trò ngang nhau.

(3.2) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo Thái Doãn Đ đã bị kết án chưa xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo Đ đã đến cơ quan chức năng để “đầu thú” nên phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung cho cả hai bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[4] Các bị cáo đều có nhân thân xấu đặc biệt là bị cáo Đ nên phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là có căn cứ, cần thiết.

Thời gian các bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam các bị cáo 45 ngày.

[5] Đối với hành vi bán ma túy cho K của Nguyễn Ngọc D và Lê Minh Hoàng H: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q đã khởi tố trong một vụ án hình sự khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng:

Ma túy, bao bì hoàn lại sau giám định-là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy;

Điện thoại di động Samsung Galaxy J7Prime, là tài sản của bị cáo K; điện thoại di động Samsung GalaxyA23, là tài sản của bị cáo Đ. Các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;.

Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74G1-158.55 cho anh Lê Xuân N (Chủ sở hữu), là có căn cứ.

[III] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh K và bị cáo Thái Doãn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Minh K: 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 27/3/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Thái Doãn Đ: 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 27/3/2024.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • * Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong ký kiệu NS4A 125750.
  • * Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
    • - 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy J7 Prime, màu đen, số IMEI1: 352810091311023.
    • - 01 điện thoại di động hiệu Sam sung GalaxyA23, màu xanh, số IMEI: 353220/82/2044704/6.

(Các vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024).

3. Về án phí:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 95/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh K và Thái Doãn Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger