|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày: 26 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
- Ông Hà Ngọc Phi
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Văn S - sinh năm 1995; tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành S1 (chết) và bà Nguyễn Thị Diệu H; bị cáo chưa có vợ con;
+ Tiền án:
Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 69/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/02/2019. Đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm vào ngày 04/3/2018 và ngày 16/8/2023; đối với bồi thường dân sự thì Võ Văn S chưa thi hành xong.
Ngày 01/10/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 231/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/9/2022, đóng án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 26/02/2020.
+ Tiền sự: Không.
+ Nhân thân:
- Ngày 08/11/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G Bộ C theo Quyết định số 1062/QĐ-UBND thời hạn 24 tháng với lý do “Nhiều lần trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong vào ngày 10/11/2012.
- Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa tại Quyết định số 92/QĐ-TA ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam;
đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị hại:
Anh Trần Quang T - sinh năm 1993; trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Tấn L - sinh năm: 1992; trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị T1 - sinh năm: 1968; trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Hoàng Thị L1 - sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: B N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 03 tháng 5 năm 2024, Võ Văn S một mình đi bộ từ nhà ở tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa đến tiệm hớt tóc hiệu “BaberShop” của anh Trần Quang T (bạn của S) tại tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa chơi. Đến khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, S hỏi mượn điện thoại của T để gọi cho mẹ xin tiền, T đồng ý. T lấy điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4 màu xanh dương có ốp lưng nhựa màu xanh, bên trong gắn 01 sim mạng Viettel đưa cho S mượn và hướng dẫn mở mật khẩu mở khóa màn hình. Sau khi không liên lạc được với mẹ, S cất điện thoại này vào túi quần, tiếp tục hỏi T mượn xe mô tô để đi về gặp mẹ xin tiền, T đồng ý và giao xe mô tô 79V1 - 576.31, hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu sơn đỏ - đen đưa cho S mượn. Trên đường đi về nhà, khi đi đến đoạn đường Q gần đập tràn thuộc thôn P, xã V thì Võ Văn S nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của T bán lấy tiền tiêu xài nên điều khiển xe mô tô 79V1 - 576.31 quay lại khu vực thị trấn V và đi đến cửa hàng mua bán điện thoại di động hiệu “Lực Mobile” tại tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V bán cho anh Phạm Tấn L với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Lực tháo sim bên trong điện thoại ra trả lại cho S cất vào túi quần rồi bỏ đi. Đến ngày 04/5/2024, anh L đã bán lại điện thoại này cho người khác (không rõ tên, địa chỉ) với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô 79V1 - 576.31 đi đến khu vực Bến xe phía B, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để tìm người tiêu thụ. Tại đây, S mang xe mô tô đến cơ sở thu mua phế liệu của chị Hoàng Thị L1 tại phường V, thành phố N bán cho chị L1 với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Đến ngày 05/5/2024, chị L1 đã bán lại xe mô tô này cho người khác (không rõ tên, địa chỉ) với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền có được do bán các tài sản chiếm đoạt từ Trần Quang T, S đã sử dụng hết vào sinh hoạt cá nhân. Đến ngày 10/5/2024, Võ Văn S bị Cơ quan Công an thị trấn Vạn Giã mời làm việc thì S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tổ chức truy tìm các tài sản của anh Trần Quang T nhưng không có kết quả.
Tại Kết luận định giá tài sản số 899/KL-TCKH.TTHS ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4 màu xanh dương có giá trị là: 2.547.000đồng.
- 01 ốp lưng điện thoại màu xanh ngọc có giá trị là: 56.000đồng.
- 01 sim điện thoại di động, mạng Viettel số 0971.128.xxx có giá trị là: 40.000đồng.
- 01 xe mô tô 79V1 - 576.31, hiệu Yamaha, loại Nouvo-5P11, có giá trị là: 7.110.000đồng.
Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 9.753.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
- Bị hại anh Trần Quang T yêu cầu Võ Văn S bồi thường xe mô tô 79V1 - 576.31 và điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4, có ốp lưng nhựa gắn 01 sim với tổng số tiền là 9.753.000đồng.
- Bà Trần Thị T1 là chủ sở hữu xe mô tô 79V1 - 576.31 đã giao xe mô tô này cho Trần Quang T quản lý, sử dụng từ tháng 4 năm 2022, sau đó T bị Võ Văn S chiếm đoạt xe này. Bà T1 không yêu cầu gì về dân sự đối với T.
Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSVN ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử Võ Văn S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Võ Văn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tuyên phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc Võ Văn S bồi thường cho bị hại Trần Quang T số tiền 9.753.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại anh Trần Quang T có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Tấn L, bà Hoàng Thị L1.
Nhưng bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của những người này, đồng thời những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về căn cứ định tội: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 95/CT-VKSVN ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận vào khoảng hơn 08 giờ giờ 50 phút ngày 03/5/2024, trong quá trình mượn điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4 có ốp lưng nhựa màu xanh bên trong gắn 01 sim mạng Viettel và 01 xe mô tô 79V1 - 576.31 của anh Trần Quang T đi từ tổ dân phố số B, thị trấn V đến thôn P, xã V, huyện V, Võ Văn S đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tất cả các tài sản này của anh T và bán tiêu xài cá nhân. Tài sản có tổng giá trị là 9.753.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự thì:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Võ Văn S là người có tiền án, chưa được xóa án tích và đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” (tại Bản án số 231/2019/HS-ST ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Nên với hành vi này, bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thuộc tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”, tội và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự tín nhiệm của người khác giao tài sản cho mình mà từ đó chiếm đoạt tài sản.
[4.1] Bị cáo là người có 02 tiền án: Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 69/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/02/2019 và chưa thi hành xong phần bồi thường dân sự. Và ngày 01/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 231/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2022.
Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng ngày 08/11/2010. Hiện nay, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 92/QĐ-TA ngày 09/7/2024 và đang chấp hành quyết định này tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa.
Chứng tỏ bị cáo là người không biết tiếp thu sửa chữa, thích hưởng thụ bằng tài sản của người khác nên cần xử lý bị cáo mức án thật nghiêm khắc mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
[4.2] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy sự
khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Tại phiên tòa, tuy bị hại anh Trần Quang T vắng mặt nhưng tại Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 9.753.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng). Bị cáo Võ Văn S cũng đồng ý bồi thường số tiền trên cho anh T nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trần Quang T số tiền 9.753.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
- Bà Trần Thị T1 là chủ sở hữu xe mô tô 79V1 - 576.31 đã giao xe mô tô này cho anh Trần Quang T quản lý, sử dụng từ tháng 4 năm 2022 sau đó anh T bị Võ Văn S chiếm đoạt xe này. Tại phiên tòa, bà T1 không yêu cầu anh T phải bồi thường hay còn có yêu cầu gì khác, nên Tòa không xem xét.
[6] Đối với anh Phạm Tấn L đã có hành vi mua điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4, bà Hoàng Thị L1 đã có hành vi mua xe mô tô 79V1 - 576.31. Tuy nhiên khi mua điện thoại di động và xe mô tô thì anh L, bà L1 không biết đây là tài sản do Võ Văn S phạm tội mà có nên không có cơ sở để xem xét, xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[7] Về án phí:
Bị cáo Võ Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 200.000đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 487.650đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Võ Văn S.
- Xử phạt bị cáo Võ Văn S 03 (ba) năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Võ Văn S phải bồi thường cho anh Trần Quang T số tiền 9.753.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Quy định: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Không xét về việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa anh Trần Quang T và bà Trần Thị T1.
Về án phí:
Bị cáo Võ Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 487.650đồng (bốn trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi đồng).
- Quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt) là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Tuyết Mỹ |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn S
