|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA Bản án số: 95/2024/HS-ST Ngày 23 - 5 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Mẳn và bà Quàng Thị Hoả.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Phương, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn H, sinh 01/01/1984; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Nà Cường, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lò Văn U, sinh 1958 và bà Lò Thị L (đã chết); có vợ Lò Thị T, sinh 1985 và 04 con, con lớn nhất sinh 2004, con nhỏ nhất sinh 2011; tiền sự: không; tiền án: Ngày 20/8/2018 bị Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xử phạt 54 tháng tù về 02 tội “Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác ; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Lò Văn Đ, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 22/12/2023, tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính đối với Lò Văn H; đấu tranh tại chỗ H giao nộp 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng và số tiền 1.040.000VNĐ, đồng thời khai nhận cục bột màu trắng là ma tuý, số tiền là do bán ma tuý mà có. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.
Lò Văn H khai về nguồn gốc ma tuý có được từ 06 giờ ngày 22/12/2023, H đi nhờ xe của người dân không biết họ tên đến bản Đan Én, xã C gặp và mua ma tuý của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 600.000VNĐ về cất giữ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời; trước khi bị phát hiện, H bán trái phép chất ma tuý cho một số người không biết tên, địa chỉ, trong đó ngày 10/12/2023 H được bán trái phép chát ma tuý lần thứ nhất cho Lường Văn P được số tiền 200.000VNĐ và ngày 14/12/2023 tiếp tục bán trái phép chất ma tuý cho Pành lần thứ hai được số tiền 200.000VNĐ phù hợp với lời khai của P.
Ngày 22/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Phòng K Công an tỉnh S, tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn H như sau: Cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng có khối lượng: 1,12 gam, lấy ra 0,13 gam làm mẫu giám định ký hiệu H. Còn lại: 0,99 gam ký hiệu H1, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu hồng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 25/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện thực hiện trưng cầu giám định số tiền 1.040.000VNĐ thu giữ của Lò Văn H.
Ngày 28/12/2023 Phòng K Công an tỉnh S có Kết luận giám định số: 159/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,12 gam; loại Heroine”.
Ngày 06/01/2024 Phòng K Công an tỉnh S có kết luận giám định số 252/KL-KTHS, Kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.
Tiến hành điều tra đối với Lường Văn P, xác định: ngày15/12/2023 Pành cất giữ trái phép chất ma tuý, bị phát hiện bắt quả tang đã bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn H nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của H.
Bản cáo trạng số 64/CT-VKS-ML ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 08 đến 09 năm tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy: 0,99 gam Heroine, 1 vỏ phong bì, 01 mảnh nilon; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.040.000VNĐ; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo H tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật hạn chế; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cho bị cáo hưởng mức hình phạt 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, không phạt bổ sung với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; miễn tiền án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 22/12/2023, tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện Lò Văn H cất giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý, cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời, thực tế H đã bán trái phép chất ma tuý cho Lường Văn P lần thứ nhất vào ngày 10/12/2023 được số tiền 200.000VNĐ và lần thứ hai ngày 14/12/2023 được số tiền 200.000VNĐ thì bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại kết luận giám định số 159/KL-KTHS, ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,12 gam; loại Heroine”. Như vậy, Lò Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 1,12 gam chất ma túy để sử dụng cho bản thân và bán trái phép chất ma tuý cho Lường Văn P 02 lần để kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, cải tạo giáo dục rèn luyện bản thân, được tái hoà nhập cộng đồng nhưng không thấy đó làm bài học để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện mà ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ trái phép chất ma túy mà còn bán trái phép chất ma túy hai lần; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương mà còn làm ảnh hưởng đến chính sách về cải tạo, giáo dục người phạm tội của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: Ngày 20/8/2018 bị Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xử phạt 54 tháng tù về 02 tội “Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 28/01/2022 về địa phương nhưng đến ngày 22/12/2023 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa được xoá án tích và theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự thì H đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); bị cáo tự thú (đã khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Pành 02 lần). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân lao động, người dân tộc thiểu số, sống ở vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy) nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: bị cáo không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 22/12/2023 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[9] Đối với Lường Văn P đã bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của H nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.
[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,13 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,99 gam Heroine ký hiệu H1 thu giữ của Lò Văn H còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu hồng bị cáo H đã sử dụng làm phương tiện cất giữ trái phép chất ma tuý là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền bị cáo đã bán bán trái phép chất ma túy có được tổng cộng 1.040.000VNĐ là số tiền do phạm tội mà có nên cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (22/12/2023); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,99 gam Heroine ký hiệu H1; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh nilon màu hồng của Lò Văn H.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.040.000VNĐ (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) của Lò Văn H.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |
Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 95/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lo Văn H, Mua bán trái phép chất ma túy
