Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày: 05-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

Tại điểm cầu trung tâm gồm có:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Manh A Drơng

2. Ông Bùi Hoàng Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà:

Ông Phạm Công Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo mở phiên toà xét xử vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

Các bị cáo tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần

1. Trần Văn Q, sinh năm: 2003; Nơi sinh: Tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1979 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1980; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2024, đến ngày 21/5/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E. Có mặt.

2. Lê Xuân Q1, sinh năm 2001, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm Nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh N, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2024, đến ngày 21/5/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E. Có mặt.

Người tham gia tố tụng tại điểm cầu trung tâm:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Duy C1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

Người tham gia tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ và cảnh sát hỗ trợ tư pháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 12/5/2024, Trần Văn Q điều khiển xe mô tô biển số 47E1 - 350.77 (xe này của bà Đặng Thị C, mẹ Q) đi đến khu vực ngã tư thuộc xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, gặp một người đàn ông tên G (không xác định được nhân thân, lai lịch). Qua nói chuyện, Q biết người đàn ông này có bán ma túy nên hỏi mua 3.500.000 đồng, người đàn ông này đồng ý và nhận tiền rồi đưa cho Q 01 túi nylon không màu, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Q biết đó là ma túy nên cất giấu vào trong người rồi điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ N1 Nguyên ở xã E, huyện K gặp Lê Xuân Q1. Tại đây, Q rủ Q1 đi sang thị trấn E, huyện E cùng nhau sử dụng ma túy thì Q1 đồng ý, lúc này Q đưa túi nylon cho Q1 cầm, biết đó là túi chứa ma túy nên Q1 cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái, sau đó Q điều khiển xe mô tô chở Q1 đi sang thị trấn E, huyện E. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q và Q1 đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E thì bị Công an huyện E phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Q1 01 túi nylon không màu, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, Q và Q1 khai nhận đó là ma túy, cả hai tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và Q1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số: 710/KL-KTHS, ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh tỉnh Đ, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon không màu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1757 gam, loại Ketamine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

Tại bản cáo trạng số: 93/CT-VKS-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố các bị cáo Trần Văn QLê Xuân Q1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn QLê Xuân Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12 tháng 5 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân Q1 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12 tháng 5 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 47E1 - 350.77, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên do bà Đặng Thị C đứng tên chủ sở hữu, việc Trần Văn Q sử dụng xe mô tô để mua ma túy thì bà C không biết, vì vậy đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đặng Thị C, là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 1,1242 gam ma túy, loại: Ketamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo trình bày nói lời sau cùng:

Bị cáo Trần Văn Q xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Lê Xuân Q1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định. Vào lúc 17 giờ 30 phút, ngày 12/5/2024, tại đoạn đường thuộc tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Trần Văn QLê Xuân Q1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,1757 gam ma túy, loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E phát hiện, bắt quả tang.

Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;"

Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, về tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm hại đến các chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy còn góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian, nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục để các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bởi các bị cáo đều là người trực tiếp thực hành, trước và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân rõ vai trò của từng bị cáo. Vì vậy, cần phân tích đánh giá cụ thể hành vi của từng bị cáo tham gia vào việc phạm tội để quyết định hình phạt được chính xác.

Đối với Trần Văn Q, bị cáo là người trực tiếp bỏ tiền đi mua ma túy, chủ động rủ Q1 và chở Q1 đi sang thị trấn E để sử dụng ma túy nên bị cáo Q đóng vai trò lớn và tích cực trong vụ án này. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Q thật nghiêm khắc và cao hơn so với bị cáo Q1.

Đối với Lê Xuân Q1, khi nghe Q rủ đi sử dụng mà túy thì bị cáo Q1 đồng ý ngay, là người cầm và cất giấu ma túy trên người và cùng bị cáo Q sang thị trấn E để sử dụng ma tuy nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Q1 thật nghiêm nhưng thấp hơn bị cáo Q.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Q, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 1,1242 gam ma túy, loại: Ketamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 47E1 - 350.77, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên do bà Đặng Thị C đứng tên chủ sở hữu, việc Trần Văn Q sử dụng xe mô tô để mua ma túy thì bà C không biết nên cần chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đặng Thị C, là chủ sở hữu hợp pháp.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn QLê Xuân Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12 tháng 5 năm 2024.

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân Q1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12 tháng 5 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 1,1242 gam ma túy, loại: Ketamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

(Đặc điểm vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Đặng Thị C chiếc xe ô tô biển số 47E1 - 350.77, là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Văn QLê Xuân Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk;
  • - Viện KSND huyện EaH'leo;
  • - Công an huyện Ea H'leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'leo;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sư;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần Văn Quỳnh và Lê Xuân Quyết phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger