trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28-6-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 179/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1996; thường trú: Thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; tạm trú: Số C đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Thế L, sinh năm 2000; thường trú: Thôn I, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai; tạm trú: Số C đường Đ, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 4 năm 2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:

Chị và anh Trần Thế L có tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện chung sống, hai bên có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48/2023 ngày 25/5/2023. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng thuê trọ, sinh sống và làm việc tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Hai vợ chồng bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Vì vậy, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn L1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Minh Đ, sinh ngày 08/5/2023. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh L1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Biên bản xác minh ngày 20/5/2024 Hội Liên hiệp phụ nữ phường D cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa chị Bùi Thị T với anh Trần Thế L, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị và việc nuôi dạy con chung của anh chị như thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn L1 đã được tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 24/6/2024 và ngày 28/6/2024 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh L1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Trần Thế L là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 48/2023 do UBND Hbông, huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 25/5/2023, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

[4] Theo lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy quá trình chung sống giữa chị T, anh L phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh L không phụ giúp chị T về tài chính trong gia đình nên thường xuyên cãi nhau, vì thế tình cảm vợ chồng không còn. Tòa án đã triệu tập anh L lên tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh L bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng của chị T, anh L đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về con chung: Vợ chồng anh, chị có 01 con chung tên Trần Đăng M, sinh ngày 08/5/2023, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xét, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cũng phải xem xét điều kiện chăm sóc tốt nhất, đảm bảo cho sự phát triển cả về thể chất và tinh thần cho con chung. Cháu Trần Đăng M chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của người mẹ và quá trình tố tụng Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý cho anh L nhưng anh L không có ý kiến về việc trực tiếp nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử sẽ giao con chung cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh Trần Văn L1 cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Trần Thế L (theo giấy chứng nhận kết hôn số 48/2023 do UBND H Bông, huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 25/5/2023).
  2. Về con chung: Anh Trần Thế L giao con chung tên Trần Đăng M, sinh ngày 08/5/2023 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị T về việc không yêu cầu anh Trần Thế L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị T, anh L phải tạo điều kiện cho nhau trong việc thăm nom, chăm sóc con, không ai có quyền ngăn cản anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002929 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (2);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (1);
  • - THADS thành phố Dĩ An (1);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (1);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 95/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Thị Tr yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thế L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger