Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

“V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Thơm.

2. Ông Võ Thanh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Trần Thị Xuân – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 178/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm: 1991; (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố I, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm: 1977; (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1986; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2024, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn ông Đặng Văn H trình bày:

Tại đơn khởi kiện, ông Đặng Văn H và ông Nguyễn Tấn T có mối quan hệ từ trước. Ngày 09/01/2023, ông T có nhu cầu vay tiền và hỏi mượn ông H số tiền 800.000.000 đồng. Ông H đã đồng ý và đưa tiền cho ông T. Sau đó, có lập một Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 09/01/2023, có chữ ký, chữ viết và lăn tay của ông T. Khi cho ông T vay tiền, các bên thỏa thuận rằng trong vòng 90 ngày, tức từ ngày 09/01/2023 đến ngày 09/04/2023, ông T sẽ trả lại 800.000.000 đồng tiền gốc cho ông H, với lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng. Đến ngày 20/4/2023, tức là quá thời hạn trả số tiền 800.000.000 đồng, ông T gặp ông H để thỏa thuận vay thêm 200.000.000 đồng. Ông H đồng ý và đưa thêm 200.000.000 đồng cho ông T, với thỏa thuận thời hạn vay là 90 ngày, tức từ ngày 20/4/2023 đến ngày 20/7/2023, ông T sẽ trả lại cho ông H 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tiền nợ gốc của 2 lần vay, với lãi suất thỏa thuận cũng là 3%/tháng. Sau đó, ông H và ông T tiếp tục lập thêm Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đề ngày 20/4/2023, với nội dung cho vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Trong cả hai lần vay tiền, ông T đã thế chấp cho ông H một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 310376, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Tấn T vào ngày 04/01/2023, thuộc thửa đất số 115, tờ bản đồ số 50, diện tích 2500,0m². Sau khi vay tiền lần hai, ông T không trả lãi như thỏa thuận, đến hạn trả tiền nợ gốc, ông T cũng không hoàn trả lại tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng cho ông H. Ông H đã nhiều lần liên lạc với ông T để yêu cầu trả tiền, nhưng ông T lẩn tránh và không trả tiền. Số tiền ông H cho ông T vay là tiền riêng của ông H cho ông T vay nên ông H chỉ khởi kiện một mình ông T.

Nay ông H yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Tấn T phải có trách nhiệm trả cho tôi số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) và tiền lãi chậm thanh toán phát sinh cho đến khi trả xong nợ tạm tính:

- Số tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 20/5/2023 tạm tính đến ngày 20/3/2024 với lãi suất thỏa thuận là 20%/năm: 1.000.000.000 đồng x 20%/năm (Tức 1,667%/tháng) x 10 tháng = 167.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng).

Tổng cộng ông H yêu cầu Tòa án buộc ông T phải có trách nhiệm trả cho tôi số tiền 1.000.000.000 đồng + 167.000.000 đồng = 1.167.000.000 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi bảy triệu đồng).

Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho ông H số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ đồng) gốc và tiền lãi tính từ ngày 21/7/2023 tạm tính đến ngày xét xử 30/9/2024 là 1.000.000.000 đồng x 20%/năm x 1 năm 02 tháng 09 ngày = 239.452.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu ông T phải trả là 1.239.452.000 đồng.

2

* Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày:

Ông T xác nhận có việc ông H cho ông T mượn 1.000.000.000 đồng qua hai lần vay. Ông T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H về việc trả nợ gốc và lãi. Tuy nhiên, hiện nay ông T chưa có tiền nên chưa thể trả lại cho ông H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M vắng mặt không có lý do.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, đồng thời thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này đảm bảo cho việc ban hành các quyết định và bản án theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện tính vô tư, khách quan trong quá trình xét xử. Kiểm sát viên đã phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Theo đó, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhiều lần đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai, chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không hợp tác, không đến Tòa án vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho ông Đặng Văn H số tiền 1.000.000.000 (Một tỷ đồng) gốc và tiền lãi tính từ ngày 21/7/2023 tạm tính đến ngày xét xử 30/9/2024 theo lãi suất thỏa thuận 20%/năm. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

3

Ông Đặng Văn H có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Nguyễn Tấn T đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T cư trú tại thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng giữa các đương sự xác lập vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Về quan hệ pháp luật: Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền vay phát sinh từ giao dịch dân sự vay tài sản mà hai bên đã xác lập theo hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 của Bộ luật Dân sự, nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản” là đúng pháp luật.

Về chứng cứ: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[3] Về nội dung vụ án:

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện: Tại giấy vay tiền có tiêu đề là “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” lập ngày 09/01/2023, thể hiện việc ông H cho ông T vay số tiền 800.000.000 đồng. Hợp đồng này có thỏa thuận về thời hạn vay, lãi suất, nhưng không có mục đích vay. Giấy vay tiền này có chữ ký, chữ viết và dấu lăn tay của ông T. Tương tự, tại giấy vay tiền có tiêu đề là “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” lập ngày 20/4/2023, thể hiện việc ông H cho ông T vay số tiền 1.000.000.000 đồng, với các điều khoản thỏa thuận về thời hạn vay, lãi suất, nhưng không có mục đích vay, và có chữ ký, chữ viết cùng dấu lăn tay của ông T. Ông H trình bày rằng giấy vay lập ngày 20/4/2023 là giấy tổng hợp của hai khoản nợ, trong đó có khoản nợ cũ theo giấy vay ngày 09/01/2023 là 800.000.000 đồng và khoản nợ mới phát sinh vào ngày 20/4/2023 là 200.000.000 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định giữa các bên đã thỏa thuận thực hiện hợp đồng vay tài sản. Đây là hợp đồng có thỏa thuận về thời hạn vay, không có tài sản đảm bảo được đăng ký theo quy định, có thỏa thuận lãi suất và không có mục đích vay, được quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Tại thời điểm giao kết, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Hình thức của hợp đồng được lập bằng văn bản, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, không

4

vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại phiên tòa, ông T có mặt và trình bày rằng có sự việc ông H cho ông T vay số tiền 1.000.000.000 đồng qua hai lần vay, có thỏa thuận lãi suất 03%/tháng, thời hạn đến ngày 20/7/2023 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền mà ông T nợ ông H. Tuy nhiên, đến hạn, do chưa có tiền nên ông T chưa thể thanh toán số nợ cho ông H. Về yêu cầu khởi kiện của ông H, ông T đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định rằng hợp đồng vay tài sản giữa ông H và ông T là có thật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, theo thỏa thuận tại giấy vay tiền ngày 20/4/2023 bị đơn hẹn đến 20/7/2023 sẽ thanh toán nợ gốc 1.000.000.000 đồng cho ông H nhưng đến hạn trả tiền nhưng ông T không thực hiện đúng như thỏa thuận, như vậy ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Nên yêu cầu trả tiền gốc của ông H là có căn cứ.

- Về tiền lãi: Theo thỏa thuận của các đương sự, thời hạn trả nợ là đến ngày 20/7/2023. Ông T có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho ông H, nhưng khi đến hạn, ông T không thực hiện việc trả nợ. Tại phiên tòa, ông T thống nhất số tiền lãi do ông H yêu cầu. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán phát sinh trên số tiền gốc 1.000.000.000 đồng, tính từ ngày 21/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, với lãi suất thỏa thuận 20%/năm là hoàn toàn có căn cứ. Yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự. Như vậy, số tiền lãi ông T phải trả cho ông H tạm tính từ ngày 21/7/2023 đến ngày xét xử là ngày 30/9/2024 là 1.000.000.000 đồng x 01 năm 02 tháng 9 ngày x 20%/năm = 239.452.000 đồng.

- Về việc giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Quá trình vay tiền ông T có giao có ông H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 310376, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Tấn T vào ngày 04/01/2023 giữ để làm tin. Xét thấy, tại phiên tòa ông T không có ý kiến gì về việc này và nguyên đơn trình bày khi nào ông T thanh toán nợ đầy đủ thì ông H sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 310376. Vì vậy, nếu sau này ông H và ông T có tranh chấp về vấn đề này sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Từ những phân tích trên, việc nguyên đơn khởi kiện ông T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy số tiền ông T phải trả trả cho nguyên đơn tổng cộng là 1.239.452.000 đồng.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

5

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Khoản 2 Điều 92; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 161; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117; Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn H:

    - Buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho Đặng Văn H số tiền là 1.239.452.000 đồng. Trong đó, 1.000.000.000 đồng là tiền gốc và 239.452.000 đồng là tiền lãi.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Tấn T phải nộp 49.184.000 án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Đặng Văn H số tiền 23.505.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm không năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011536 ngày 13/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

6

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Biện Việt Hùng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: việc nguyên đơn khởi kiện ông T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy số tiền ông T phải trả trả cho nguyên đơn tổng cộng là 1.239.452.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger