|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DS-ST. Ngày: 27 - 9 - 2024. V/v Tranh chấp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Quang Kim Cúc.
- Ông Nguyễn Phát Triển.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2023/TLST-DS, ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2024/QĐXXST-DS, ngày 28/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 264A/2024/QĐST-DS, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H - sinh năm: 1946.
- Bị đơn:- Anh Phạm Vũ E - sinh năm: 1990.
Địa chỉ: A, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Nguyễn Thị D - sinh năm: 1992.
Cùng địa chỉ: 5, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn chị D có đơn xin vắng mặt, anh Vũ E vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Nguyên trước đây anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị D có tham gia hụi và hốt hụi do bà H làm chủ hụi nhưng thời gian lâu quá bà H không nhớ và không còn giữ các Biên lai hụi; sau đó chị D và anh Vũ E bỏ đi làm ăn xa. Đầu năm 2020, vợ chồng chị D và anh Vũ E trở về lại địa phương sinh sống nên vào ngày 15/01/2020, bà H có cho vợ chồng anh Vũ E và chị D làm Tờ xác nhận nợ (giấy viết tay ghi ngày 15/01/2020 có chữ ký tên, chữ viết họ tên của anh Vũ E và chị D) với số tiền là 78.000.000 đồng và cam kết trả nợ mỗi tháng 01 triệu đồng. Nội dung Tờ xác nhận nợ thể hiện mục đích nợ là để làm vốn đi buôn, không ghi tính lãi và cũng không quy định bắt buộc thời hạn phải trả tiền vốn; khi nào bà H cần tiền thì báo trước cho vợ chồng chị D sẽ lo trả lại tiền cho bà H. Sau đó vợ chồng chị D đã trả cho bà H được tổng cộng là 15.000.000 đồng (từ ngày 29/01/2020 đến ngày 25/02/2023, trả 14 lần), còn nợ lại 63.000.000 đồng đến nay chưa trả.
- Nay bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm C liên đới trách nhiệm trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng; bà H không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra bà H không có yêu cầu gì khác và cũng không có yêu cầu ai khác liên đới trách nhiệm cùng với anh Vũ E và chị D trả nợ cho bà H.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là chị Nguyễn Thị D không đến Tòa án tham gia hòa giải. Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2024, chị D có ý kiến trình bày:
Chị D thừa nhận như lời trình bày của bà H là đúng; trước đây chị D có tham gia hụi, đã hốt hụi của bà H số tiền là 78.000.000 đồng; sau đó chị D và anh Vũ E bỏ đi làm ăn xa. Đầu năm 2020, vợ chồng chị D và anh Vũ E trở về lại địa phương sinh sống nên vào ngày 15/01/2020, bà H có đến nhà yêu cầu anh Vũ E và chị D làm Tờ xác nhận nợ bằng giấy viết tay ghi ngày 15/01/2020 có chữ ký tên, chữ viết họ tên là của anh Vũ E và chị D. Sau đó vợ chồng chị D đã trả cho bà H được 14 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng (từ ngày 29/01/2020 đến ngày 25/02/2023); hiện chị D và anh Vũ E còn nợ bà H số tiền vốn gốc là 63.000.000 đồng đến nay chưa trả.
- Nay bà H yêu cầu chị D và anh Vũ E cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là 63.000.000 đồng thì chị D đồng ý. Chị D hứa sẽ cùng với anh Vũ E trả cho bà H mỗi tháng là 500.000 đồng kể từ tháng 8 âm lịch năm 2024 cho đến khi trả xong số tiền 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng cho bà H. Ngoài ra chị D không có yêu cầu phản tố và cũng không có ý kiến trình bày, yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Vũ E vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến:
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng anh Vũ E không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, không xuất trình bất cứ tài liệu chứng cứ gì để bảo vệ quyền, lợi ích cho mình. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập cho anh Vũ E nhiều lần nhưng anh Vũ E vẫn không đến Tòa án để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và không tham gia phiên tòa theo quy định.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn, bị đơn là chị D đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là anh Phạm Vũ E không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, anh Vũ E không chấp hành đúng quy định tại khoản 16 Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn là anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm .
- Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim H.
- + Buộc bị đơn là anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm C liên đới trách nhiệm trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng; bà H không có yêu cầu tính lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng; Hội đồng xét xử xét thấy:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết là “Tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
1.3. Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị D (có đơn xin vắng mặt) và anh Phạm Vũ E (vắng mặt không có lý do) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; xét xử vắng mặt anh Vũ E và chị D.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu bị đơn là anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm C liên đới trách nhiệm trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng; bà H không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự bà H, chị D cùng thừa nhận là anh Vũ E và chị D có tham gia hụi và hốt hụi do bà H làm chủ hụi nhưng do thời gian quá lâu bà H không nhớ và không còn giữ các Biên lai hụi; sau đó chị D và anh Vũ E bỏ đi làm ăn xa. Đầu năm 2020, vợ chồng chị D và anh Vũ E trở về lại địa phương sinh sống nên vào ngày 15/01/2020, bà H có cho vợ chồng anh Vũ E và chị D làm Tờ xác nhận nợ (giấy viết tay ghi ngày 15/01/2020 có chữ ký tên, chữ viết họ tên của anh Vũ E và chị D) và cam kết trả nợ với số tiền là 78.000.000 đồng, mỗi tháng trả 01 triệu đồng. Nội dung Tờ xác nhận nợ thể hiện là nợ vay, mục đích vay là để làm vốn đi buôn, không tính lãi, không thỏa thuận thời hạn vay. Sau đó vợ chồng chị D đã trả cho bà H được tổng cộng là 15.000.000 đồng (từ ngày 29/01/2020 đến ngày 25/02/2023, trả 14 lần), còn nợ lại 63.000.000 đồng đến nay chưa trả.
Đối với Tờ xác nhận nợ ghi ngày 15/01/2020 thể hiện nội dung là nợ vay nhưng các bên đương sự bà H và chị D cùng thống nhất xác định số tiền 78 triệu đồng là nợ hụi.
Về phía bị đơn, chị D thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ hụi, đã hốt hụi của bà H với số tiền là 78 triệu đồng và cũng thừa nhận chữ ký tên trong Tờ xác nhận nợ ngày 15/01/2020 là của chị D cùng chồng là anh Vũ E ký tên và đồng ý liên đới cùng với anh Vũ E trả cho bà H số tiền còn nợ là 63 triệu đồng. Do đó, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau:
“Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
- Quá trình giải quyết vụ án; anh Vũ E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, đã có thông báo để anh Vũ E cung cấp văn bản ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng anh Vũ E vẫn không có văn bản trình bày ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; cũng không sắp xếp công việc đến Tòa án để trình bày ý kiến nguyện vọng của anh Vũ E đối với yêu cầu khởi kiện của bà H; không tham dự các buổi tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay. Như vậy, anh Vũ E đã từ chối các quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định.
Do anh Vũ E không có ý kiến phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bà H đưa ra; nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn bà H, lời khai của bị đơn chị D và các tài liệu, chứng cứ của bà H đưa ra là chứng cứ để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.
- Do đó, xét yêu cầu của bà H yêu cầu anh Vũ E và chị D cùng liên đới trách nhiệm trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 đồng; bà H không yêu cầu tính lãi là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Buộc anh Vũ E và chị D cùng liên đới trách nhiệm trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 đồng.
- Bà H không yêu cầu tính lãi và cũng không không có yêu cầu ai khác liên đới trách nhiệm cùng với anh Vũ E và chị D trả nợ cho bà H nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là anh Vũ E và chị D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm C liên đới trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Kim H số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là: 63.000.000 (sáu mươi ba triệu) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị Kim H, mà anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị D chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng anh Vũ E và chị D còn phải trả lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đối với số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
- Anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị Diễm N 3.150.000 (Ba triệu, một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Kim H được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do bà H là người cao tuổi (có đơn xin miễn tạm ứng án phí, lệ phí).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Vũ E và chị Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Danh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Quang Kim Cúc - Nguyễn Phát Triển |
Trần Quốc Danh |
Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hụi
- Số bản án: 95/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
