Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên;
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 956/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 877/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.

Địa chỉ: B - 268, N, phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  1. Ông Trần Văn H – Chức vụ: Phó Phòng giao dịch Tiềm năng phụ trách kinh doanh Ngân hàng TMCP S1 – Phòng G.
  2. Bà Trần Thị Ngọc B – Chức vụ: Chuyên viên quản lý tín dụng Ngân hàng TMCP S1 – Phòng G.

- Bị đơn: Chị Trương Anh T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ thường trú: A41, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Tố C, sinh năm: 1982.
  2. Ông Bùi Đình D, sinh năm: 1973.
  3. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm: 1955.
  4. Bà Nguyễn Kim S, sinh năm: 1955.
  5. Cháu Bùi Đình Nguyễn H1, sinh năm: 2004.
  6. Cháu Bùi Đình Nguyễn H2, sinh năm: 2007.
  7. Cháu Bùi Nguyễn Gia H3, sinh năm: 2020.

Cùng địa chỉ: B, tổ G, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Đình D, ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Kim S, cháu Bùi Đình Nguyễn H1: Bà Nguyễn Thị Tố C, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: B, tổ G, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bà Nguyễn Thị Tố C, sinh năm: 1982 và ông Bùi Đình D, sinh năm: 1973 là người giám hộ của cháu Bùi Đình Nguyễn H2 và cháu Bùi Nguyễn Gia H3.

(anh H1 có mặt; các đương sự khác vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S1 Chi nhánh Đ - P cùng bà Trương Anh T có ký kết các hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh Đ – PGD Hố Nai có cho bà Trương Anh T vay vốn theo hợp đồng tín dụng số [...] với các nội dung chính như sau:

Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng.

Phương thức trả nợ: Gốc trả cuối kỳ, lãi trả hàng tháng.

Theo từng giấy nhận nợ tương ứng

Thời hạn vay: 6 tháng.

Lãi suất: Lãi suất 03 tháng đầu 16%/năm, kể từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng LSCS tương ứng theo kỳ hạn vay được S2 niêm yết tại

www.S2.com.vnthời điểm điều chỉnh cộng biên độ 6,7%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần.

Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn kinh doanh.

Dư nợ vay và lãi đến ngày 03 tháng 6 năm 2024: 2.540.719.269 đồng.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021 Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh Đ - P có cấp cho bà Trương Anh T thẻ tín dụng tín chấp như sau:

Số thẻ: 472074 - 1090

Số tài khoản thẻ: 3370797015

Hạn mức thẻ: 150.000.000 đồng

Cấp thẻ theo điều kiện: DK KH có quan hệ tín dụng

Dư nợ thẻ tín dụng hiện tại: 195.961.734 đồng

TÌNH HÌNH THANH TOÁN VỐN LÃI:

Tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024, bà Trương Anh T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của hợp đồng vay như sau:

Tổng nợ gốc khoản vay: 1.995.000.000 đồng

Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng

Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng

Tổng cộng: 2.798.964.774 đồng.

TÀI SẢN THẾ CHẤP:

Theo hợp đồng thế chấp số 435/TC ngày 14 tháng 12 năm 2021, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 15 tháng 12 năm 2021 và tài sản thế chấp là:

- GCN QSDĐ số CĐ091332, số vào sổ CS06723 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 30 tháng 5 năm 2016.

Tài sản trên được bà Trương Anh T thế chấp vay vốn tại Ngân hàng TMCP S1 – CN Đồng Nai – P.

Trong thời gian qua Ngân Hàng TMCP S1 đã làm việc với bà Trương Anh T để tìm phương án giải quyết về khoản vay. Đến nay nợ quá hạn các khoản vay trên đã quá hạn 461 ngày, tuy nhiên bà Trương Anh T vẫn chưa đưa ra được hướng giải quyết trả nợ. Đồng thời khi Ngân hàng xuống làm việc thì bà Trương Anh T đã cố tình lánh mặt không gặp.

Nhận thấy việc chậm trả nợ tiền vay đến hạn của bà Trương Anh T là vi phạm hợp đồng tín dụng và có dấu hiệu không hợp tác giải quyết nợ vay, vì vậy

Ngân hàng TMCP S1 kính đề nghị Quý Tòa:

Buộc bà Trương Anh T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024 là 2.798.964.774 đồng, trong đó:

Tổng nợ gốc khoản vay: 1.995.000.000 đồng

Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng

Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng

Và bà Trương Anh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14 tháng 12 năm 2021.

Trong trường hợp Bà Trương Anh T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc lãi cho ngân hàng thì tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ091332, số vào sổ CS06723 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 30 tháng 5 năm 2016 sẽ được dùng để đảm bảo thi hành án.

Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã tiến hành thủ tục Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn bà Trương A theo quy định nhưng bị đơn bà Trương Anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Theo biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tố C trình bày:

Gia đình các bà không biết việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp giữa bà Trương Anh T với Ngân hàng TMCP S1. Tuy nhiên, gia đình bà đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; đồng ý bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp

luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu các quy định của pháp luật; có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng, bị đơn bà Trương Anh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trương Anh T, địa chỉ thường trú: A41, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trả tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên; yêu cầu phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp bà T không trả được nợ. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, các điều 35, 39, 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 14, 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 được xác định là nguyên đơn, bà Trương Anh T được xác định là bị đơn và những người sinh sống trên đất là bà Nguyễn Thị Tố C, ông Bùi Đình D, ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Kim S, cháu Bùi Đình Nguyễn H1, cháu Bùi Đình Nguyễn H2, cháu Bùi Nguyễn Gia H3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[1.2] Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Trương Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 Cầm vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc và lãi:

Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể

hiện:

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 có ký kết với bà Trương Anh T Hợp đồng tín dụng số [...] với các nội dung chính như sau, Ngân hàng cho bà T vay số tiền: 2.000.000.000 đồng; Phương thức trả nợ: Gốc trả cuối kỳ, lãi trả hàng tháng. Theo từng giấy nhận nợ tương ứng; Thời hạn vay: 6 tháng; Lãi suất: Lãi suất 03 tháng đầu 16%/năm, kể từ tháng thứ 04, lãi suất được điều chỉnh bằng LSCS tương ứng theo kỳ hạn vay được S2 niêm yết tại www.S2.com.vnđiểm điều chỉnh cộng biên độ 6,7%/năm, định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn kinh doanh.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 có cấp cho Bà Trương Anh T thẻ tín dụng tín chấp như sau: Số thẻ: 472074 - 1090; Số tài khoản thẻ: 3370797015; Hạn mức thẻ: 150.000.000 đồng; Cấp thẻ theo điều kiện: DK KH có quan hệ tín dụng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, bà T chậm trả nợ tiền vay đến hạn, vi phạm hợp đồng tín dụng và có dấu hiệu không hợp tác giải quyết nợ vay. Tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024, bà Trương Anh T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của hợp đồng vay như sau: Tổng nợ gốc khoản vay: 1.995.000.000 đồng; Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng; Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng; Tổng cộng: 2.798.964.774 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trương Anh T trả cho Ngân hàng tổng số nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024 là 2.798.964.774 đồng, trong đó: Tổng nợ gốc: 1.995.000.000 đồng; Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng; Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 cho đến khi bà Trương Anh T hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.

Xét thấy, việc các bên ký kết Hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa các bên là tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên phù hợp với các quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện bị đơn bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng; Thẻ tín dụng như thỏa thuận giữa các bên. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà T trả cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024 là 2.798.964.774 đồng, trong đó: Tổng nợ gốc: 1.995.000.000 đồng; Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng; Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký kết từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 cho đến khi bà Trương Anh T hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 là phù hợp với các Hợp đồng tín dụng, Giấy

đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng các bên đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[2.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo cho các khoản vay, bà T đã tự nguyện thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 23, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp số CĐ 091332, số vào sổ CS06723 ngày 30 tháng 5 năm 2016). Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 435/TC ngày 14 tháng 12 năm 2021, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 15 tháng 12 năm 2021.

Xét việc thế chấp tài sản đảm bảo khoản vay giữa các bên là tự nguyện và đúng theo quy định pháp luật; đồng thời những người sinh sống trên đất cũng đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý bàn giao tài sản để thi hành án nên cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với tài sản thế chấp nêu trên trong trường hợp bà Trương Anh T không có khả năng thanh toán số tiền nợ còn thiếu cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

[3] Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Trương Anh T phải chịu 14.000.000 đồng chi phí tố tụng. Do nguyên đơn đã đóng tạm ứng nên buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, 68, khoản 1 Điều 147, Điều 180, Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 4, 90, 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điều 116, 117, 385, 429, 463, 465, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 đối với bị đơn bà Trương Anh T về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn bà Trương Anh T có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 tổng số tiền tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024 là 2.798.964.774đ (Bằng chữ: Hai tỷ bảy trăm chín mươi tám triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) trong đó: Tổng nợ gốc: 1.995.000.000 đồng; Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng; Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng.

Tài sản bảo đảm thi hành án là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 23, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp số CĐ 091332, số vào sổ CS06723 ngày 30 tháng 5 năm 2016). Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 435/TC ngày 14 tháng 12 năm 2021, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 15 tháng 12 năm 2021.

Kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn bà Trương Anh T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã được ký kết giữa các bên. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trương Anh T phải chịu 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) chi phí tố tụng. Bà Trương Anh T phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) chi phí tố tụng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.

3. Về án phí: Bà Trương Anh T phải chịu 87.979.295.đ (tám mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền 39.362.000₫ (ba mươi chín triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009340 ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 95/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu: Buộc bà Trương Anh T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14 tháng 7 năm 2024 là 2.798.964.774 đồng, trong đó: Tổng nợ gốc khoản vay: 1.995.000.000 đồng Tổng nợ thẻ tín dụng: 201.862.650 đồng Tổng nợ lãi quá hạn: 602.102.124 đồng Và bà Trương Anh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 202126462812 ngày 14 tháng 12 năm 2021. Trong trường hợp Bà Trương Anh T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc lãi cho ngân hàng thì tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ091332, số vào sổ CS06723 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 30 tháng 5 năm 2016 sẽ được dùng để đảm bảo thi hành án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger