|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DS-PT Ngày: 07/8/2024. V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du và Bà Lê Thị Tố Như
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh ngày 10/8/1964. (Có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 (đã chết)
- Bà Trần Thị T2, sinh năm 1963. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - UBND xã L, huyện H.
- Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1983
- Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người được ủy quyền của nguyên đơn: Anh Tống Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung C - Chủ tịch UBND xã.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn T1:
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
( Tòa bộ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Gia đình bà L có một thửa đất được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M913791 tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 02 bản đồ dân cư xã L. Tổng diện tích là 1.228m², trong đó đất ở là 200m² và đất vườn tạp là 1.028 m², cấp ngày 30/9/2001 mang tên hộ bà Nguyễn Thị L. Địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bà sử dụng thửa đất trên ổn định và không có xảy ra tranh chấp gì. Đến ngày 10/9/2016, khi bà L đi vắng thì gia đình bà T2, ông T1 là hộ liền kề tự đóng cọc mốc giới, chặt cây, xây tường làm nhà kho lấn sang đất nhà bà khoảng 150 m².
Vụ việc sau đó bà đã báo cáo UBND xã đề nghị giải quyết. UBND xã đã tiến hành hòa giải, làm việc yêu cầu trả lại đất đã lấn chiếm nhưng không được các bên thống nhất. Nay bà L đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình bà T2 tháo giỡ nhà kho, trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà khoảng 150 m² đất lấn chiếm.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị T2 trình bày:
Gia đình ông bà và gia đình bà L là hàng xóm giáp nhau.
Năm 1985 gia đình ông bà từ xã H lên xã L khai hoang vùng kinh tế mới, tôn tạo và sinh sống trên mảnh đất hiện nay gia đình đang ở.
Năm 2001 gia đình ông bà được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T1, diện tích 1.595m² đất tại thôn L, xã L, huyện H tại thửa số 47, tờ bản đồ số 02. Trong đó đất ở 200m², đất vườn tạp 1.395 m² theo giấy chứng nhận số M 931790, vào sổ cấp giấy chứng nhận sô 00155 cấp ngày 30/9/2001 do UBND huyện H cấp.
Năm 2014 gia đình bà xây tường, trong thời gian xây tường bà L thường chửi bới và cho rằng gia đình ông bà lấn chiếm đất của gia đình bà L. Bà L làm đơn báo cáo lên UBND xã và UBND giải quyết. UBND xã L và UBND huyện H đã về đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất của hai gia đình, tổ chức hòa giải về tranh chấp đất đai giữa hai bên gia đình nhưng bà L không đồng ý. Nay bà L
khởi kiện tại Tòa án yêu cầu gia đình ông bà trả lại diện tích đất bị lấn chiếm là 150 m² trong đó đất ở là 50 m², đất vườn tạp là 100 m².
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:
Gia đình ông T1 và bà T2 đang sử dụng diện tích đất là 1.595 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.395 m²), thửa số 47 tờ bản đồ số 2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 913790, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00155, do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T1.
Ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị T2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L vì thực tế gia đình ông bà không lấn chiếm đất của gia đình bà L. Khi xây tường rào gia đình ông bà đã xây lùi vào phần đất của gia đình ông bà. Thực tế đoạn tường rào giáp ranh mỗi gia đình xây ½ chiều dài của bức tường, bà L xây phần dưới (phía nam), gia đình ông bà xây phần trên (phí bắc) thành một bức tường thẳng nên không có việc gia đình ông bà lấn chiếm 150 m² của gia đình bà L.
Quá trình tiến hành giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 chết ngày 27/02/2023. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của ông T1 là chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Văn T4, anh Nguyễn Văn L1 thống nhất ủy quyền cho bà Trần Thị T2 tham gia giải quyết vụ án, thống nhất với ý kiến của bà T2 đã trình bày.
Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ xác định:
Về nguồn gốc đất qua các thời kỳ:
- - Theo hồ sơ bản đồ 299/1984 khu đất thuộc tờ bản đồ số 01 thửa số 34 tổng diện tích là 23.716m² (Khu đất này thuộc đất vùng kinh tế mới quy hoạch để san cư cho các hộ đăng ký chuyển về xây dựng vùng kinh tế mới).
- * Theo số mục kê bản đồ dân cư năm 1999 xã L:
- - Thửa đất bà L đang sử dụng là thửa số 48, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.228 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.028 m²). Và thửa đất 119 (đất 2 lúa) diện tích 660 m² (trên sổ mục kê thuộc đất UBND xã Quản lý nhưng thực tế là giao đất lâu dài theo nghị định 64 của Chính phủ). Đứng tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị L. Tổng diện tích là 1.888 m².
- - Thửa đất bà T2 đang sử dụng là thửa số 47, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.595 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.395 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn T1.
- * Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2001:
- - Thửa đất bà L đang sử dụng là thửa số 48, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.228 m² (đất ở 200 m², đất vườn 1.028 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là hộ bà Nguyễn Thị L. Đất 2 lúa liền thổ (thửa 119, tờ bả đồ số 02) diện tích 660 m². Tổng diện tích 1.888 m².
- - Thửa đất bà T2 đang sử dụng là thửa số 47, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.595 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.395 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn T1.
- * Theo bản đồ địa chính năm 2004 xã L:
- - Thửa đất hộ bà L đang sử dụng là thửa số 383, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.939 m² (đất ở 200 m², đất vườn 1.739 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là hộ bà Nguyễn Thị L. (Tổng diện tích tăng 51 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ mục kê).
- - Thửa đất hộ bà T2 đang sử dụng là thửa số 392, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.644 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.444 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn T1. (Tổng diện tích tăng 49 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ mục kê).
* Kết quả xem xét thẩm định hiện trạng:
- Thửa số 48, tờ bản đồ số 2 tại thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 913791, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00156, do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị L:
- - Diện tích thửa đất qua kiểm tra hiện trạng 1.289 m²
- + Phía đông giáp hộ bà T2 số đo 10,6 + 28,64 m
- + Phía tây giáp hộ ông Trần Văn Đ số đo 38,75 m
- + Phía nam giáp đất nông nghiệp của bà L. số đo 33,6 m
- + Phía bắc giáp đường thôn số đo 32,97 m.
- - Diện tích đất nông nghiệp: 660 m²
- + Phía đông giáp hộ bà T2 số đo 20,22 m
- + Phía tây giáp hộ ông Trần Văn Đ số đo 19,68 m
- + Phía nam giáp đất nhà bà T5 số đo 33,07 m
- + Phía bắc giáp đất ở, đất vườn bà L số đo 33,06 m.
- Thửa đất số 47 tờ bản đồ số 2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 913790, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00155, do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T1.
- * Diện tích hiện trạng thửa đất 1.656 m²
- - Phía đông giáp hộ ông T6 số đo 58,24 m
- - Phía tây giáp bà L số đo 58,86 m
- - Phía nam giáp bà T5 số đo 29,57 m
- - Phía bắc giáp đường thôn số đo 26,82m.
Tổng diện tích sử dụng bao gồm đất ở, đất vườn tạp, đất nông nghiệp là 1.949m². Tăng so với bản đồ 299 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 61 m². Tăng so với bản đồ dân cư năm 2004 là 10 m².
Tổng diện tích đất ở, đất vườn là 1.656 m². Tăng so với bản đồ 299 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 61 m². Tăng so với bản đồ dân cư năm 2004 là 12 m².
* Kiểm tra vị trí tranh chấp theo hiện trạng (Mô tả vị trí tranh chấp theo ý kiến của nguyên đơn):
Là khu đất tiếp giáp giữa hai thửa đất tính là bức tường tiếp giáp xây gạch không nung chiều dài 58,86 m. Tường này là do ông Thái x (phía bắc) năm 2016 chiều dài 28,64 m. Phần đất nông nghiệp phía nam do bà L xây năm 2017. Diện tích đất lấn chiếm khoảng 150 m².
- - Cạnh đông số đo 59,36 m;
- - Cạnh tây số đo 10,6 + 28,64 + 20,22 m;
- - Cạnh nam số đo 2,6 m;
- - Cạnh bắc số đo 2,56 m.
Trên khu đất này có nhà kho xây gạch không nung, mái B, cửa tôn do nhà bà Trần Thị T2 xây dựng và đang sử dụng, nhà kho xây năm 2016.
01 cây vú sữa khoảng 7 năm tuổi; 07 cây mít khoảng 5 năm tuổi; 01 cây dừa trồng khoảng 30 năm tuổi.
* Ý kiến của UBND xã L:
Căn cứ vào hồ sơ quản lý địa chính xã L đất ở của hộ bà L được phản ánh của bản đồ dân cư năm 1999 tại thửa 48 tờ bản đồ số 02 diện tích 1.228 m², đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M91379 số vào sổ 00156 do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001 trong đó đất ở là 200 m², đất vườn tạp là 1.028 m². Thửa 119 tờ bản đồ dân cư số 02 diện tích 660 m² đất nông nghiệp hiện tại đang giao cho bà L canh tác. Tổng diện tích thửa 48 và thửa 119 là 1.888 m².
Đất của bà L được phản ánh trong bản đồ địa chính đo đạc năm 2004 tại thửa 383 tờ bản đồ số 02 diện tích 1.939 m² (năm 2004 đo đạc đã gộp thành một thửa bao gồm đất ở, đất vườn tạp và đất nông nghiệp).
Sau khi đo đạc hiện trạng sử dụng đất. Tại khu đất bà L 4 bên đã xây tường rào. So sánh bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng đất hộ bà L là 1.949 m². Tăng 10 m² so với bản đồ địa chính năm 2004. Tăng 61 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại khu vực đất hộ bà L 4 bên đã xây tường rào. So sánh diện tích đo đạc, bản đồ đại chính năm 2004 và diện tích đất đang sử dụng của hộ bà L đã đủ 1.939 m². (thực tế 1949 m²).
Từ năm 2016 đến năm 2022, UBND xã đã nhiều lần nhận đơn đề nghị xác định mốc giới giữa hộ bà L và hộ liền kề phía đông là hộ ông T1, bà T2. Sau nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Năm 2023 bà Nguyễn Thị L đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Quan điểm của UBND xã là: Qua kiểm tra hiện trạng đất ở và đất vườn nhà bà L không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hai gia đình đã xây chung tường rào ngăn giáp ranh; Trên phần đất đang tranh chấp thì bà T2 đã trồng cây lâu năm từ trước khi sảy ra tranh chấp nên việc bà L cho rằng hộ bà T2 lấn chiếm là không có căn cứ.
Tại phiên tòa các đương sự khác giữ nguyên quan điểm của mình như đã trình bày ở trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; 271; 273; 280 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Khoản 1 khoản 5 Điều 166; Điều 170; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- [1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc buộc hộ bà Trần Thị T2 trả lại phần đất (150 m²) tiếp giáp giữa hai thửa đất (thửa đất số 48, tờ bản đồ số 02 của hộ bà Nguyễn Thị L và thửa đất số 47 tờ bản đồ số 2 của hộ bà Trần Thị T2) bản đồ dân cư xã L.
- [2]. Giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị L và hộ bà Trần Thị T2. Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định theo chiều nam - bắc là bức tường xây chung của hai gia đình.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về chi phí thẩm định, án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa có ý kiến: Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự quyết định theo hướng: Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị L giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; xét kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- [1]. Về tố tụng và quan hệ pháp luật:
- * Gia đình bà L có một thửa đất được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M913791 tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 02 bản đồ dân cư xã L. Tổng diện tích là 1.228m², trong đó đất ở là 200m² và đất vườn tạp là 1.028 m², cấp ngày 30/9/2001 mang tên hộ bà Nguyễn Thị L. Địa chỉ thửa đất tại thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình bà Trần Thị T2 tháo giỡ nhà kho, trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình bà khoảng 150 m² đất lấn chiếm. Do đó, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 36, điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- * Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo Điều 227 BLTTDS.
- [2] Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của kháng cáo:
- [3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã kháng cáo và bản luận cứ của người được ủy quyền anh Tống Văn T tại phiên tòa:
- * Về nguồn gốc, vị trí, diện tích của thửa đất số 47 và thửa đất số 48, tờ bản đố số 02 (bản đồ địa chính xã L vẽ năm 2004):
- - Căn cứ bản đồ 299/1984 và sổ mục kê bản đồ dân cư năm 1999 xã L và bản đồ địa chính 2004 cho thấy:
- + Vị trí thửa đất hộ gia đình bà L đang sử dụng có số thửa 48, tờ bản đồ số 02, diện tích thửa đất là 1.228m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.028 m²). Và thửa đất 119 (đất 2 lúa) diện tích 660 m² (trên sổ mục kê thuộc đất UBND xã Quản lý nhưng thực tế là giao đất lâu dài theo nghị định 64 của Chính phủ). Đứng tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị L. Tổng diện tích là 1.888 m². Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M91379 số vào sổ 00156 do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001.
- + Vị Trí Thửa đất bà T2 đang sử dụng là thửa số 47, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.595 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.395 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn T1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 913790, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00155, do UBND huyện H cấp ngày 30/9/2001.
- + Thửa đất hộ bà L đang sử dụng là thửa số 383, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.939 m² (đất ở 200 m², đất vườn 1.739 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là hộ bà Nguyễn Thị L. (Tổng diện tích tăng 51 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ mục kê).
- + Thửa đất hộ bà T2 đang sử dụng là thửa số 392, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.644 m² (đất ở 200 m², đất vườn tạp 1.444 m²). Đứng tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn T1. (Tổng diện tích tăng 49 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ mục kê).
- - Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định hiện trạng:
- + Tổng diện tích sử dụng của bà L bao gồm đất ở, đất vườn tạp, đất nông nghiệp là 1.949m². Tăng so với bản đồ 299 và giấy chứng nhận quyền sử dụng
Ngày 29/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 05/4/2024 Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 14/2024/DSST. Người kháng cáo đã nộp án phí theo quy định tại các Điều 273; Điều 275 và Điều 276 BLTTDS. Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Theo đơn kháng cáo đề ngày ngày 05/4/2024 nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 14/2024/DSST ngày 29/3/2024.
Lý do: Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
HĐXX xét thấy:
đất là 61 m². Tăng so với bản đồ dân cư năm 2004 là 10 m².
Theo trích lục bản đồ địa chính số 350/2024/TLBĐ ngày 23/02/2024 tổng diện tích 1939 m² . Mục đích sử dụng theo giấy chứng nhận đất ở tại nông thôn (200m2) và đất trồng cấy lâu năm (1028m2) hiện tại tăng 10 m² .
- + Tổng diện tích sử dụng của bà T7 đất ở, đất vườn là 1.656 m². Tăng so với bản đồ 299 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 61 m². Tăng so với bản đồ dân cư năm 2004 là 12 m².
- + Phần Diện tích đất đang tranh chấp khoảng 150 m². Là khu đất tiếp giáp giữa hai thửa đất tính là bức tường tiếp giáp xây gạch không nung chiều dài 58,86 m. Tường này là do ông Thái x (phía bắc) năm 2016 chiều dài 28,64 m. Phần đất nông nghiệp phía nam do bà L xây năm 2017.
- + Năm 2019 xảy ra tranh chấp, qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: Trên khu đất này có nhà kho xây gạch không nung, mái B, cửa tôn do nhà bà Trần Thị T2 và ông Nguyễn Văn T1 xây dựng và đang sử dụng, nhà kho xây năm 2016; 01 cây vú sữa khoảng 7 năm tuổi; 07 cây mít khoảng 5 năm tuổi; 01 cây dừa trồng khoảng 30 năm tuổi.
- * Về quan điểm của UBND xã L là: Qua kiểm tra hiện trạng đất ở và đất vườn nhà bà L không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hai gia đình đã xây chung tường rào ngăn giáp ranh; Trên phần đất đang tranh chấp thì bà T2 đã trồng cây lâu năm từ trước khi sảy ra tranh chấp nên việc bà L cho rằng hộ bà T2 lấn chiếm là không có căn cứ.
- * Về nguyên đơn chưa trình bày bài luận cứ: Sau khi xem xét biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 29/2/2023 thể hiện quan điểm của của anh T đại diện cho bà L trong biên bản và cũng như phần trình bày, phần xét hỏi, tranh luận và nhận định bản án sơ thẩm đã có xét đến. Nội dung đó cũng giống nội dung trong đơn kháng cáo.
- * Trong nội dung bản luận cứ và trình bày của nguyên đơn cùng với người được ủy quyền tại phiên tòa, cũng như kháng cáo về việc yêu cầu đưa nguyên chủ tịch và chủ tịch huyện H cùng với hội đồng đăng ký đất xã L, hội đồng giám định viên tham gia tố tụng và xác định danh tính 5 hoặc 7 thành viên trong hội đồng đăng ký đất đai, thẩm định lại vị trí tọa độ ban đầu khi giao đất năm 2001 là không cần thiết vì UBND xã đã có văn bản nêu quan điểm và ý kiến trong quá trình xem xét thẩm định. Ngày 30/9/2001 các đương sự đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không ai có ý kiến gì về việc đo vẽ, xác định vị trí tọa độ, từ khi được cấp giấy cho đến nay như cấp sơ thẩm nhận định là phù hợp.
Sau khi đo đạc, kiểm tra hiện trạng sử dụng đất xác định: Tại khu đất bà L 4 bên đã xây tường rào. Phía tranh chấp mỗi bên gia đình xây ½ tường rào giáp ranh. Khu vực tranh chấp hộ gia đình bà Trần Thị T2 đã trồng cây lâu năm, có cây đã trên 30 năm tuổi (khi xét xử ở sơ thẩm thì cây Dừa đã bị múc bỏ không còn theo thẩm định).
Qua kiểm tra hiện trạng đất ở và đất vườn nhà bà L không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà còn tăng 10m² so với bản đồ dân cư năm 2004 và trích lục bản đồ địa chính số 350/2024/TLBĐ ngày 23/02/2024; Hai gia
đình đã xây chung tường rào ngăn giáp ranh toàn bộ khu đất; Trên phần đất đang tranh chấp thì bà T2 đã trồng cây lâu năm từ trước khi sảy ra tranh chấp nên việc bà L cho rằng hộ bà T2 lấn chiếm là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L là phù hợp.
Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy toàn bộ kháng cáo và bản luận cứ của người được ủy quyền anh Tống Văn T và nguyên đơn bà Nguyễn Thị L không có cơ sở để chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
- [4] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận nhưng được trừ vào 300.000₫ mà bà đã nộp theo biên lai số 0003226 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; Điều 5; Điều 293; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 khoản 2 Điều 229; khoản 1 Điều 148; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 166,175, 176 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 166; Điều 170; Điều 202; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai. Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Án phí phúc thẩm dân sự: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào 300.000₫ mà bà đã nộp theo biên lai số 0003226 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 95/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 95/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
