|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 95/2024/DSST Ngày: 19/9/2024 V/v: “Tranh chấp HĐ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Kình
- 2. Ông Nguyễn Văn Hoà
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 89/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST- DS ngày 9 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT V1.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L, ông Phạm Tuấn A, ông Đỗ Thành T – Giám đốc và Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý
Uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Thành H, ông Trần Đức A1 – Cán bộ ngân hàng.
- Bị đơn: Ông Vương Duy M, sinh năm 1995; Trú tạỉ: số E H, phường H, quận H, Hà Nội;
Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (xin XX vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 7/12/2020, Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là V1) và ông Vương Duy M ký Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2011263071066 với số tiền vay là 2.200.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng kể từng ngày 8/12/2020; Mục đích vay để thanh toán tiền mua 3 xe ô tô Vinfast Lux 2.0 bản tiêu chuẩn, động cơ 2.0, AT sản xuất năm 2020, mới 100% phục vụ nhu cầu đi lại cá nhân; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9%/ năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng/1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chinh lãi suất đầu tiên là ngày 8/12/2021, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2022. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đổi với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chinh (+) biên độ 4.4%/năm. Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đổi với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Khoản vay thẻ tín dụng với V1 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (gọi tắt là Hợp đồng thẻ tín dụng) số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 với hạn mức 20.000.000 đồng. Lãi suất: Theo quy định của V1 là 2,79%/năm tại thời điểm giải ngân và sẽ được ngân hàng điều chỉnh theo Quyết định về việc ban hành điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng khối Khách hàng cá nhân theo từng thời kỳ và công khai niêm yết tại các trụ sở của ngân hàng; Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng; thời hạn vay: 60 tháng tính từ ngày 16/12/2020.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là 03 xe ô tô bao gồm 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSLFV005295, số máy 203100008VF20SED, BKS số 30G-725.05; 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV001805, số máy 200780017VF20SED, BKS số 30G-723.84; 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV004884, số máy 203020005VF20SED, BKS số 30G-720.61 đều do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 4/12/2020 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Vương Duy M. Chi tiết tại Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ký ngày 7/12/2020 giữa V1 với ông Vương Duy M. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thể chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đăng ký lần đầu tại Hợp đồng số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020 và đăng ký thay đổi tại Hợp đồng số LN2011263071066 ngày 7/12/2020, tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng theo quy định pháp luật. Đối với 03 xe ô tô Vinfast là tài sản thế chấp bảo đảm cho các khoản vay, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, văn bản chứng nhận đăng ký biên pháp bảo đảm hợp đồng theo quy định của pháp luật thì ông Vương Duy M là người quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay. V1 không có thông tin về 03 chiếc xe hiện đang ở đâu, tình trạng xe, người đang thực tế quản lý, sử dụng vì vậy đề nghị Toà án xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
V1 đã giải ngân đủ số tiền vay 2.200.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020 và 20.000.000 đồng theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 cho ông Vương Duy M theo đúng cam kết. Quá trình thực hiện 02 hợp đồng tín dụng, ông Vương Duy M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/11/2021 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn trong các hợp đồng tín dụng và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 4 và điểm a, f khoản 1 Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô ngày 12/03/2018. Tạm tính đến ngày 24/4/2023 ông Vương Duy M còn nợ V1 tổng số tiền là: Đối với Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020: Nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi: 581.366.495 đồng và đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 là 35.145.497 đồng. Tổng cộng là: 2.633.062.434 đồng.
Nay đại diện ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết: a/ Yêu cầu Tòa án buộc ông Vương Duy M phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Dư nợ tạm tính đến ngày 24/4/2023: Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020: Nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi: 581.366.495 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 là 35.145.497 đồng. Tổng cộng là: 2.633.062.434 đồng b/Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay cho đến ngày thực tế ông Vương Duy M thanh toán hết nợ cho V1. c/Yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án: V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 03 xe ô tô bao gồm 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSLFV005295, số máy 203100008VF20SED, BKS số 30G-725.05; 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV001805, số máy 200780017VF20SED, BKS số 30G-723.84; 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV004884, số máy 203020005VF20SED, BKS số 30G-720.61 đều do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 4/12/2020 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Vương Duy M
* Bị đơn là ông Vương Duy M trình bày:
Tôi đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện liên quan đến việc tôi vay tiền ngân hàng và dùng xe ô tô thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay. Tôi đã được đọc đơn khởi kiện của ngân hàng, tôi xác nhận nội dung các tài liệu chứng cứ Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020, Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020, phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng ngày 7/12/2020, biên bản định giá tài sản ngày 7/12/2020, uỷ nhiệm chi ngày 8/12/2020 là đúng, chữ viết và chữ ký của tôi – Vương Duy M đúng là do tôi viết và ký. Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là 03 xe ô tô Vinfast bao gồm 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSLFV005295, số máy 203100008VF20SED, BKS số 30G-725.05; 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV001805, số máy 200780017VF20SED, BKS số 30G-723.84; 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV004884, số máy 203020005VF20SED, BKS số 30G-720.61 đều do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 4/12/2020 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của tôi Vương Duy M. Quá trình thực hiện hợp đồng tôi đã được ngân hàng giải ngân đủ số tiền vay và đã thanh toán được cho ngân hàng 1 phần tiền nợ gốc và nợ lãi. Tôi xác nhận con số tiền nợ tạm tính đến ngày 24/4/2023 trong đó nợ gốc là 2.016.550.442 đồng, nợ lãi: 581.336.495 đồng; nợ thẻ tín dụng: 35.145.497 đồng; tổng cộng: 2.663.062.434 đồng như ngân hàng yêu cầu là đúng, không có ý kiến gì phản đối.
Tuy nhiên đối với 03 xe ô tô Vinfast là tài sản bảo đảm cho các khoản vay tôi có ý kiến như sau: 03 chiếc xe trên là do tôi mua hộ anh Trần Công T1, sinh năm 1991 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H, là bị can bị khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tôi không thực tế sử dụng và quản lý 03 chiếc xe trên mà anh T1 là người trực tiếp sử dụng. Hàng tháng anh T1 không chuyển tiền cho tôi để trả nợ ngân hàng nên tôi phải sử dụng tiền riêng để trả nợ ngân hàng. Việc tôi mua hộ xe cho anh T1 chỉ là thoả thuận của tôi và anh T1 nhưng phía ngân hàng cũng nắm được thể hiện tại các cuộc điện thoại khi đòi nợ thì nhân viên ngân hàng đều điện trước cho anh T1 để đòi nợ, nếu không liên lạc được thì sẽ điện cho tôi để thông báo lại cho anh T1 hoặc trả nợ hộ cho anh T1. Anh T1 có trả lời tôi vào thời điểm trước khi bị bắt liên quan đến 03 chiếc xe Vinfast: 02 chiếc xe ô tô Vinfast BKS 30G-72505 và 30G-723.84 được anh T1 giao cho anh Nguyễn Khắc Đ ở Ứ, 01 chiếc xe ô tô Vinfast BKS 30G-720.61 anh T1 bắt tôi viết giấy bán xe cho chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 ở S (địa chỉ cụ thể tôi không biết), thời điểm viết giấy bán chỉ sau thời điểm nhận xe ít hôm vào năm 2021. Việc mua bán cụ thể thế nào tôi không nắm được, tôi chỉ nghe nói chị N chuyển tiền vào tài khoản của anh T1 số tiền 500.000.000 đồng và hiện chị N đang quản lý, sử dụng xe. Ngoài lời khai thì tôi không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Đối với nội dung khởi kiện của ngân hàng thì đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt tôi.
Tại phiên toà đại diện ngân hàng xin rút nội dung yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt chậm trả lãi, còn giữ nguyên các nội dung khởi kiện khác. Đề nghị HĐXX buộc bị đơn thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 3.512.162.076 đồng gồm: Nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi: 1.434.037.799 đồng; nợ thẻ: 41.703.809 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tại phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về thời hiệu và thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền theo quy định. Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại quận H và đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Toà án đã xác minh và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát, nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật. Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 BLTTDS toà án xét xử vắng mặt bị đơn. HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm. Về nội dung giải quyết vụ án, việc bị đơn có lời khai về việc mua hộ xe cho ông Trần Công T1 nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh, ông T1 sau khi cho xem các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị đơn đã có ý kiến đối với việc anh M vay tiền ngân hàng và thế chấp xe ô tô Vinfast như anh M trình bày thì ông T1 không biết gì và không liên quan, đại diện ngân hàng không biết gì và không công nhận các nội dung bị đơn trình bày về việc mua hộ xe và quản lý, sử dụng xe thế chấp và đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật nên xác định lời khai của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 đối với ông Vương Duy M1. Ông M phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn cho ngân hàng tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 3.512.162.076 đồng: Nợ của Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 là 3.450.588.241 đồng, trong đó nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn: 1.434.037.799 đồng và nợ của Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 là 61.573.835 đồng, trong đó nợ gốc: 19.870.026 đồng, nợ lãi: 41.703.809 đồng. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phạt chậm trả lãi đã rút; Trường hợp ông M không trả được nợ của khoản vay theo các hợp đồng cho vay thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp là 03 xe ô tô để thu hồi nợ. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị đơn phải chịu án phí DSST có giá ngạch theo quy định căn cứ trên số tiền nợ phải thanh toán cho nguyên đơn, nguyên đơn được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí DSST. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: V1 khởi kiện ông Vương Duy M, có địa chỉ cư trú tại số E phố H, phường H, Hà Nội và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm.
- Về quan hệ pháp luật: V1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Vương Duy M phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo các hợp đồng vay đã ký giữa ngân hàng và ông M. Số tiền tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
* Về nội dung:
[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc các bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi đối với Hợp đồng tín dụng đã ký kết:
V1 và ông Vương Duy M ký kết Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 với nội dung chủ yếu sau: Số tiền vay là 2.200.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng kể từng ngày 8/12/2020; Mục đích vay để thanh toán tiền mua 3 xe ô tô Vinfast Lux 2.0 bản tiêu chuẩn, động cơ 2.0, AT sản xuất năm 2020, mới 100% phục vụ nhu cầu đi lại cá nhân và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 với hạn mức 20.000.000 đồng. Lãi suất: Theo quy định của V1 là 2,79%/năm tại thời điểm giải ngân; Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng; thời hạn vay: 60 tháng tính từ ngày 16/12/2020. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc ký kết các hợp đồng tín dụng là tự nguyện thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền, năng lực hành vi dân sự, phù hợp với giao dịch được xác lập, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 trên là hợp pháp và là căn cứ để các bên thực hiện.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân cho bị đơn đủ số tiền vay theo các hợp đồng tại uỷ nhiệm chi ngày 8/12/2020...Bị đơn xác nhận đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn theo quy định Điều 8 của Hợp đồng và Điều 4, khoản 1 Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô của V1. Ngân hàng khởi kiện ra Toà án yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc, nợ lãi của các hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu của ngân hàng đối với đối với khoản nợ gốc, nợ lãi: Quá trình vay vốn bị đơn không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo đúng lịch trả nợ cam kết, vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 15/11/2021 nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Theo đó các bị đơn còn nợ ngân hàng số tiền nợ tổng cộng của 02 hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 19/09/2024 là 3.512.162.076 đồng. Cụ thể: Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 là 3.450.588.241 đồng, trong đó nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi trong hạn; 59.673.039 đồng và nợ lãi quá hạn: 1.374.364.760 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 là 61.573.835 đồng, trong đó nợ gốc: 19.870.026 đồng, nợ lãi: 41.703.809 đồng. Xét cách tính lãi suất của ngân hàng tại các hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết và các quyết định áp dụng biểu lãi suất là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của ngân hàng đề nghị phía bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn là hợp pháp. Do vậy cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả nợ ngân hàng số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 3.512.162.076 đồng theo yêu cầu của ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp bị đơn không thanh toán nợ, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, HĐXX nhận thấy: Để đảm bảo cho các khoản vay tại các Hợp đồng tín dụng, bị đơn và ngân hàng đã ký thế chấp 03 chiếc xe ô tô Vinfast gồm 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSLFV005295, số máy 203100008VF20SED, BKS số 30G-725.05; 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV001805, số máy 200780017VF20SED, BKS số 30G-723.84; 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV004884, số máy 203020005VF20SED, BKS số 30G-720.61 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô lần lượt số 826204, số 826192, số 826275 đều do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 4/12/2020 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bị đơn tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm đăng ký lần đầu tại Hợp đồng số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020 và đăng ký thay đổi tại Hợp đồng số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng. Theo Công văn số 1034/CĐKGDBĐ-CTTT ngày 22/8/2024 của Cục Đ1 – Bộ Tư pháp và Công văn số 4255/CSGT-ĐKX ngày 27/8/2024 của Phòng C, Công an thành phố H thì nội dung thế chấp 03 xe ô tô thuộc sở hữu của bị đơn tại ngân hàng là đúng và hợp lệ, cho đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận thêm thủ tục đăng ký nào đối với 03 xe ô tô thế chấp. Xét hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền, do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Do đó HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019, Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 và Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô của ngân hàng và quy định pháp luật.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã yêu cầu ngân hàng xuất trình chứng cứ về vị trí chiếc xe để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên phía ngân hàng không xuất trình được và có ý kiến ngân hàng không biết tình trạng của xe ô tô thế chấp thế nào, hiện xe ô tô thế chấp đang ở đâu, ai là người thực tế quản lý, sử dụng xe ô tô. Phía bị đơn có lời khai 03 chiếc xe ô tô Vinfast đăng ký thế chấp để bảo đảm cho các khoản vay của bị đơn tại ngân hàng là bị đơn mua hộ cho ông Trần Công T1 nhưng ông T1 sau khi cho xem các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị đơn đã có ý kiến không công nhận lời khai của bị đơn, ông T1 không biết gì, không liên quan đến việc vay tiền ngân hàng và thế chấp xe ô tô của bị đơn, đại diện ngân hàng không nhất trí với lời khai của bị đơn và chính bị đơn cũng thừa nhận không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho ý kiến trên nên không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy Toà án không thể tiến hành xem xét thẩm định tài sản thế chấp theo quy định. Căn cứ Mục 11 Phần III Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 3/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao như sau: “Trường hợp Tòa án xác định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật trong quá trình ký kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì việc không xác định được ô tô là tài sản thế chấp ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Do đó, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015”. Do vậy, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng.
[3] Đại diện theo ủy quyền của ngân hàng xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng. Xét thấy việc rút yêu cầu của ngân hàng là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ngân hàng đã rút.
[4] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Điều 117; 274, 275, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 400, 401 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo và Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với ông Vương Duy M về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020.
Buộc ông Vương Duy M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) khoản nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 3.512.162.076 đồng, trong đó số tiền nợ của Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 là 3.450.588.241 đồng, gồm nợ gốc: 2.016.550.442 đồng, nợ lãi trong hạn: 59.673.039 đồng và nợ lãi quá hạn: 1.374.364.760 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 là 61.573.835 đồng, trong đó nợ gốc: 19.870.026 đồng, nợ lãi: 41.703.809 đồng
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Ngân hàng V (V1) buộc ông Vương Duy M phải chịu tiền phạt chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng.
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Vương Duy M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020. Trường hợp nếu trong các hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V (V2) thì lãi suất mà ông M phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP V (V2) theo từng thời kỳ nhưng không trái quy định pháp luật.
- Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Vương Duy M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nợ của Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 379-P-2127870 ngày 16/12/2020 thì Ngân hàng TMCP V (V1) có toàn quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là 03 chiếc xe ô tô Vinfast gồm 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSLFV005295, số máy 203100008VF20SED, BKS số 30G-725.05; 01 xe ô tô mang nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV001805, số máy 200780017VF20SED, BKS số 30G-723.84; 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, số khung RPXAB1RSFLV004884, số máy 203020005VF20SED, BKS số 30G-720.61 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô lần lượt số 826204, số 826192, số 826275 đều do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 4/12/2020 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Vương Duy M tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2011263071066 ngày 7/12/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm đăng ký lần đầu tại Hợp đồng số LN 2011263071066 ngày 7/12/2020 và đăng ký thay đổi tại Hợp đồng số LN2011263071066 ngày 7/12/2020 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng và quy định pháp luật.
- Về án phí: Ông Vương Duy M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 101.011.765 đồng. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 42.330.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006378 ngày 09/4/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Văn Ngọc |
Bản án số 95/2024/DSST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hđ tín dụng
- Số bản án: 95/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VP– Vương Duy M
