TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 95/2023/DS-ST Ngày: 25-8-2023 V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hứa Thị Hoàng và bà Phạm Thị Cang.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Khánh Vy- Thư ký Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ L số: 08/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Minh C; Địa chỉ: thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
(Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2023). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1975; Địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1981; Địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị B; Địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
(Văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị K (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) trình bày:
Ngày 18/02/1998, hộ gia đình bà Nguyễn Thị K được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1476, đối với thửa đất số 844, số tờ bản đồ 05, diện tích 1.950 m², địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam, đứng tên chủ hộ là ông Nguyễn L1 (chồng bà K). Sau khi đo đạc lại thì diện tích thửa đất còn lại là 1.662,5 m², trong đó có 300 m² đất ở và 1.362,5 m² đất trồng cây lâu năm. Sau khi ông L chết thì để lại thừa kế và tặng cho thửa đất này cho bà Nguyễn Thị K, đăng ký biến động ngày 07/9/2020.
Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Trước năm 1975 là đất của ông bà ngoại bà K, sau đó để lại cho cha mẹ bà K ở, cha mẹ bà K cho anh trai bà K ở (là ông Nguyễn H, cha của anh T). Đến năm 1987, ông H không ở đây nữa và bán lại phần đất này cho bà K sử dụng làm nhà ở (ông H ra ở đường lớn trong cùng thôn). Khi bán thì ông H chưa làm giấy tờ gì về đất, việc mua bán giữa các bên không có giấy tờ gì. Sau khi mua đất thì gia đình bà K sinh sống tại đây từ năm 1987 đến năm 1995, năm 1995 thì gia đình bà K đi làm ăn tại Bình Phước, hộ khẩu và các loại giấy tờ khác vẫn ở D, D, Quảng Nam. Đến năm 1998 thì Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà K như trên.
Trong khi gia đình nhà bà K đang ở Bình Phước thì năm 2000 cháu bà là vợ chồng ông Nguyễn Minh T tự ý làm nhà tạm để ở, sau đó làm nhà cấp 4 ở mà không được sự đồng ý của bà K.
Bà K yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Minh T tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất để trả lại diện tích đất cho bà K. UBND xã D, huyện D đã tiến hành hòa giải nhưng vợ chồng ông T không thống nhất, vợ chồng ông T chỉ trả lại một phần diện tích đất là phần trống còn lại của khu đất, còn đề nghị được tiếp tục sử dụng diện tích đất từ bờ rào phía Nam đến hết ngôi nhà để cho ông ở (BL: 03). Bà K không thống nhất nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà và tài sản trên đất để trả lại diện tích đất cho bà với diện tích khoảng 40 m².
Ngày 09/8/2022, ông Bùi Anh N (người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị K từ ngày 03/3/2022, đến ngày 31/3/2023 thì ông N xin rút lại ủy quyền) có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Minh T phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích 609,7 m² đất tại thửa số 844, số tờ bản đồ số 05 tại thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam để trả lại đất cho bà K.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Minh T1 trình bày:
Năm 2000, ông T lập gia đình không có chỗ ở thì ông nội của ông T là ông Nguyễn T2 (đã chết) và cha ông là ông Nguyễn H1 ông đến làm nhà trên đất của ông bà trước đây để ở. Khi đến đây làm nhà thì ông T biết đất này là của gia đình
cô ruột ông là bà Nguyễn Thị K sinh sống và sau đó vào tỉnh Bình Phước làm ăn, nhưng không biết là đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho gia đình bà K. Khi đó, thì ông có trao đổi với vợ chồng ông L, bà K và được ông L, bà K cho làm nhà để ở, không có giấy tờ gì.
Vợ chồng ông T đến đây để làm nhà và sinh sống từ năm 2000 cho đến nay. Lúc đầu thì làm nhà gỗ, sau đó bị bão bay nên xây lại bằng tường gạch, lợp ngói. Diện tích xây dựng khoảng hơn 100m² và các công trình khác. Theo kết quả thẩm định thì vợ chồng ông đang sử dụng đất của bà K có diện tích là 609,7m². Đến đầu năm 2022, bà K về nói bán lại toàn bộ thừa đất này cho ông T, nhưng ông T không có tiền để mua; ông T có nói lúc đầu cho ở, đến nay đòi bán thì ông không có tiền để mua.
Tại biên bản hòa giải ngày 07/8/2023, ông Nguyễn Minh T trình bày: ông thấy diện tích 609,7 m² số tiền quá lớn, vợ chồng không có khả năng trả. Do đó ông đề nghị được mua lại diện tích đất của bà K 250 m², trong đó có 50 m² đất ở, 200 m² đất trồng cây lâu năm với giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Thời gian trả tiền đến ngày 30/8/2024 vợ chồng ông T trả đủ tiền cho bà K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim L (người đại diện theo ủy quyền có bà Nguyễn Thị B) trình bày:
Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bà Lê Thị Kim L và người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị B thống nhất như ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Minh T, thống nhất tháo dỡ các tài sản trên đất như nguyên đơn yêu cầu để trả lại đất cho bà K; đề nghị bà K giao diện tích đất 250 m² đất như lời trình bày của nguyên đơn nhưng không thống nhất thối trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà K.
Tại phiên tòa, các bên tự nguyện thỏa thuận được với nhau những nội dung sau:
Ông Nguyễn Minh T và người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Kim L (vợ ông T) là bà Nguyễn Thị B thống nhất tháo dỡ các tài sản trên đất bao gồm: 01 chuồng bò, 01 phần hồ cá, 01 phần mái tôn và 01 phần chái bếp để trả lại tổng diện tích 359,7 m² đất (T hiện tại sơ đồ ngày 09/8/2023) cho bà Nguyễn Thị K. Việc thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện.
Vấn đề các đương sự tranh chấp cần giải quyết trong vụ án:
Ông Nguyễn Minh T đề nghị bà Nguyễn Thị K cho vợ ông được tiếp tục quản L, sử dụng diện tích đất 250 m² (Trong đó có 50 m² đất ở và 200 m² đất trồng cây lâu năm) và được giữ nguyên toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất này, gồm: 01 ngôi nhà cấp 4, một hầm rút, 01 phần mái tôn, 01 mái lợp tôn Fibro xi măng và 01 phần hồ cá (T hiện tại sơ đồ bản vẽ ngày 09/8/2023 của Văn phòng Đ), không thối trả giá trị đất cho bà Nguyễn Thị K.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hồ Minh C thống nhất giao toàn
bộ tài sản gắn liền với diện tích đất 250 m² này cho vợ chồng ông Nguyễn Minh T quản L, sử dụng. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T phải thối trả cho bà Nguyễn Thị K giá trị của diện tích đất này, với giá 200.000.000 đồng (theo biên bản định giá ngày 17/4/2023 thì giá trị diện tích đất này là: (50m x 1.500.000 đồng) + (200m x 750.000 đồng) = 225.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu) đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án, người tiến hành tố tụng và các đương sự đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thối trả giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích là 250 m² đất, trong đó có 50 m² đất ở và 200 m² đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05, tại Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam giá trị thửa đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất; địa chỉ thửa đất: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (có số tờ bản đồ 844, số thửa 05) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam được quy định tại Điều 26, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nội dung các đương sự thỏa thuận được:
Các đương sự tự nguyện thỏa thuận, vợ chồng ông Nguyễn Minh T tự nguyện tháo dỡ các tài sản trên đất bao gồm: 01 chuồng bò (diện tích 19,3 m²), 01 phần hồ cá (diện tích 3,9 m²), 01 phần mái tôn (diện tích 9,2 m²) và 01 phần chái bếp (diện tích 22,9 m²), 01 phần đất trống tại khu vực này có diện tích là 67,9 m² và một phần đất trống (T hiện trên sơ đồ là L3, diện tích 236,5 m²) để trả lại tổng diện tích 359,7 m² đất cho bà Nguyễn Thị K. Hội đồng xét xử xét thấy các tài sản này không kiên cố, việc tháo dỡ không ảnh hưởng lớn đến kết cấu ngôi nhà cấp 4 mà vợ chồng ông T xây dựng và sự thỏa thuận này là tự nguyện nên chấp nhận.
[2.2] Về diện tích và giá trị tranh chấp:
Diện tích đất tranh chấp và giá trị tài sản tranh chấp được các bên xác định là 250 m² (Trong đó có 50 m² đất ở và 200 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05, tại Thôn L, xã D,
huyện D, tỉnh Quảng Nam có giá trị là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), theo kết quả định giá thì giá trị diện tích đất này là 225.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu đồng). Xét việc nguyên đơn hạ giá thấp hơn giá trị định giá ngày 17/4/2023 là tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán (không vì mục đích khác) và việc này là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã nên cần chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[2.3.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Các đương sự thừa nhận diện tích đất tranh chấp này được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn L1 vào năm 1998, sau khi ông Nguyễn L1 chết thì thừa kế và tặng cho bà Nguyễn Thị K vào năm 2020. Điều này phù hợp với Công văn số: 12/CV-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2022 của UBND xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (BL: 45) về xác định nguồn gốc thửa đất: “Thửa đất đang xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên nguyên ông Nguyễn H2 ở thôn L sử dụng. Sau năm 1980 ông Nguyễn H chuyển n cho vợ chồng ông Nguyễn L1 (ông L em vợ ông H). Đến năm 1998 thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ thửa đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QDS đất cho hộ ông Nguyễn L1 tại thửa 844, tờ bản đồ 05, diện tích 1.950 m², loại đất ở và vườn, tại giấy chứng nhận QSD đất số K.953.449 ngày 18/02/1998, số vào sổ cấp giấy 1476/QSDĐ.
Sau đó gia đình ông Nguyễn L1 đi làm ăn ở miền N và ông L chết (thời gian địa phương không rõ). Đến năm 2018 bà Nguyễn Thị K là vợ ông Nguyễn L1 đại diện đứng ra lập thủ tục công nhận đất ở đối với thửa đất số 844, tờ bản đồ 05 và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký QSD Duy Xuyên đo đạc công nhận lại diện tích đất theo hiện trạng là 1.662,5 m². Năm 2020, bà Nguyễn Thị K nhận thừa kế và tặng cho đối với thửa đất trên”.
Đồng thời cũng phù hợp với hồ sơ do Chi nhánh văn phòng Đ cung cấp (SBL: 49-63), gồm: Trích sao bản đồ 299; bản đồ 64; hồ sơ kê khai đăng ký; hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hồ sơ đăng ký biến động đối với thửa đất số 844. Tất cả các tài liệu này đều T hiện thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05 người đăng ký kê khai, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông Nguyễn L1 (chồng bà K), đến khi ông L chết thì được làm thủ tục thừa kế và tặng cho bà Nguyễn Thị K vào năm 2020
[2.3.2] Xét ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Minh T thì thấy:
Ông Nguyễn Minh T cho rằng diện tích đất 250 m² này do ông nội (ông Nguyễn T2) cho ông ở, trước khi dựng nhà ông T đã hỏi ý kiến ông L, bà K và đã được cho ở. Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh T không đưa ra được căn cứ chứng minh cho điều này.
Ông Nguyễn Minh T đưa ra căn cứ là (Giấy xác nhận của ông Nguyễn Kim D- phó thôn L- BL: 90) vào năm 2006 ông Nguyễn Minh T lấy Giấy chứng nhận
QDS đất và nộp số tiền 330.000 đồng thay cho ông Nguyễn L1 (chồng bà K). Như vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng từ năm 2006 ông Nguyễn Minh T đã biết rõ diện tích đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn L1 nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Vấn đề này với ý kiến ông T cho rằng diện tích đất 250 m² đã được ông Nguyễn L1 và bà Nguyễn Thị K cho ông là không phù hợp. Vì rằng nếu ông T xác định diện tích đất này ông Nguyễn L1 và bà Nguyễn Thị K đã cho ông thì khi nhận Giấy chứng nhận đứng tên hộ ông Nguyễn L1 thì ông phải báo với cơ quan chức năng để phối hợp với vợ chồng ông L giải quyết.
Tuy nhiên, diện tích đất 250 m² vợ chồng ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L đã làm nhà tạm và nhà cấp 4 để ở ổn định từ năm 2000 đến năm 2022 là 22 năm nhưng bà K không phản đối; mặt khác vợ chồng ông Nguyễn Minh T chưa được Nhà nước giao đất để làm nhà ở trên địa bàn xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam (BL: 88).
Qua đó, Hội đồng xét xử thấy rằng diện tích đất tranh chấp 250 m² là một phần của thửa đất số 844, số tờ bản đồ 05; địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất đứng tên hộ ông Nguyễn L1 (chồng bà K), khi ông L chết thì để lại thừa kế, tặng cho bà K. Ông Nguyễn Minh T cho rằng diện tích đất này đã được vợ chồng ông Nguyễn L1, bà Nguyễn Thị K cho vợ chồng ông nhưng không đưa ra được chứng cứ nên không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất giao diện tích đất này và toàn bộ tài sản trên đất cho vợ chồng ông Nguyễn Minh T tiếp tục quản L, sử dụng, buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T phải thối trả giá trị quyền sử dụng đất với số tiền 200.000.000 đồng, điều này là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
(Đất và tài sản trên đất có sơ đồ, bản vẽ kèm theo)
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí khác:
[3.1] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị K theo biên lai thu số 0001934 ngày 22 tháng 3 năm 2022 và biên lai thu số 0002132 ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
[3.2] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hết 5.150.000 đồng: Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Minh C1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá và đã nộp xong nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định 609,7 m² đất thuộc thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05, do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K.953.449 ngày 18/02/1998, số vào số cấp giấy 1476/QSDĐ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị K.
- Giao cho ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L quản L, sử dụng 250 m² đất (Trong đó có 50 m² đất ở và 200 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05; địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam, trên đất có: 01 ngôi nhà cấp 04, 01 hầm rút, 01 mái lợp tôn Fibro xi măng, 01 phần hồ cá, 01 phần mái lợp tôn (là tài sản của ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L).
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L phải thối trả cho bà Nguyễn Thị K đối với 250 m² đất (Trong đó có 50 m² đất ở và 200 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa đất số 844, tờ bản đồ số 05; địa chỉ: thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Công nhân sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị K (người đại diện theo ủy quyền là ông Hồ Minh C) và ông Nguyễn Minh T, bà Lê Thị Kim L (người đại diện theo ủy quyền của bà L2 là bà Nguyễn Thị B): về việc ông Nguyễn Minh T và bà Lê Thị Kim L, tháo dỡ các tài sản gồm: 01 chuồng bò (diện tích 19,3 m²), 01 phần hồ cá (diện tích 3,9 m²), 01 phần mái tôn (diện tích 9,2 m²) và 01 phần chái bếp (diện tích 22,9 m²), 01 phần đất trống tại khu vực này có diện tích là 67,9 m² và một phần đất trống (T hiện trên sơ đồ là L3, diện tích 236,5 m²) để trả lại tổng diện tích 359,7 m² đất cho bà Nguyễn Thị K.
(Đất và tài sản gắn liền với đất T hiện tại sơ đồ hiện trạng đất do Văn phòng Đ lập ngày 09/8/2023)
Về án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- - Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H3 số tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Thị K đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 00001934 ngày 22/3/2022 và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn
đồng) theo biên lai thu tiền số 0002132 ngày 10 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
- - Ông Nguyễn Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) đồng.
- - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 5.150.000 đồng (Năm triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng) người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2023).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đại |
Bản án số 95/2023/DS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 95/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại quyền sử dụng đất
