Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH B

Bản án số: 95/2021/HNGĐ-ST

Ngày 23/7/2021

“Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Chiến.

- Ông Ngô Văn Bê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 23/7/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 70/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/4/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: thôn Ngọc Sơn, xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1975.
Địa chỉ cuối cùng của chị V tại Việt Nam: thôn Ngọc Sơn, xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B.
Hiện nay đang lao động tại nước ngoài. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị V có được tự do tìm hiểu và được sự nhất trí của hai bên gia đình đã tự nguyện kết hôn với nhau năm 1993 tại UBND xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B. Do thời gian đã lâu nên anh đã làm mất Giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại thôn Ngọc Sơn, xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, từ năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do vợ chồng tính cách không hợp nhau thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm. Nay xác định tình cảm không còn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị V.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 và cháu Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1997. Hiện nay các con chung đã trưởng thành anh không có ý kiến gì.

- Về tài sản chung: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị V hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Nguyễn Thị V, chị V không có bản tự khai và lời khai.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ với ông Đỗ Văn H, sinh năm 1954. Địa chỉ: thôn Xuân Phong, xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B là bố của chị V, ông H có quan điểm trình bày như sau:

- Ông là bố đẻ của chị Nguyễn Thị V có địa chỉ như trên. Hiện nay, chị V đang đi lao động tại nước ngoài không có mặt ở tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Về địa chỉ của con ông ở nước ngoài thì ông không biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án yêu cầu gia đình ông thông báo để chị Nguyễn Thị V gửi quan điểm về cho Tòa án thì ông từ chối thực hiện.

- Về việc anh C xin ly hôn thì chị V có quan điểm trao đổi về với gia đình như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị V đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

+ Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 và cháu Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1997. Hiện nay các con chung đã trưởng thành anh C không có ý kiến gì.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị V không đề nghị Tòa án giải quyết và để anh C, chị V giải quyết ở vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn C là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn đối với chị Nguyễn Thị V. Bị đơn chị Nguyễn Thị V là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn Ngọc Sơn, xã Chu Đ, huyện Lục N, tỉnh B nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 2772/QLXNC-P5 ngày 03/02/2021 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì chị Nguyễn Thị V đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 16/6/2016, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của chị V. Do vậy, sau khi thụ lý Tòa án nhân dân huyện Lục N đã có Quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 03/2021/QĐST-DS ngày 24/3/2021 chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.

Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục N chuyển thẩm quyền là có căn cứ.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị V vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp chị Nguyễn Thị V cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị V theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị V và anh C.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 14; khoản 2, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị V.

[4]. Về con chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị V có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 và cháu Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1997. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành anh C và chị V không có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): anh C và chị V không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14, khoản 2, Điều 53; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị V.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0005160 ngày 21/12/2020 của Cục thi hành án dân sự huyện Lục N, tỉnh B.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Chị Nguyễn Thị V hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Nguyễn Văn C cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh B;
  • - Chi cục THADS huyện Lục N, tỉnh B;
  • - UBND xã Chu Đ, huyện Lục N;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Văn Bê Nguyễn Văn Chiến Trần Thị Hà
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2021/HNGĐ-ST ngày 23/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh B về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 95/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger