|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 948/2024/DSPT Ngày: 31-10-2024 V/v tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Dương Tuấn Vinh |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Cúc |
| Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4104/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Minh T, sinh năm 1984.
Đăng ký thường trú: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Đường H, khu dân cư T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Minh T: Bà Lê Thị Hằng N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Bà Lê Cẩm V, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Hằng N, sinh năm 1982
- Bà Lê Cẩm V, sinh năm 1972
- Ông Lê Văn B (chết năm 2005)
- Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1984
- Bà Lê Thị Mỹ D1, sinh năm 1986
- Bà Lê Thị Hằng N, sinh năm 1982
- Ông Diệp Minh T1
- Chị Diệp Thùy D2, sinh năm 1995
- Chị Diệp Thanh L, sinh năm 2001
- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn B:
Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
ĐKHKTT: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Tỉnh Thái Bình (Không rõ địa chỉ cụ thể)
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Cùng địa chỉ: Số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Số 12, đường Trần Phú, Phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Kim T2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B.
Địa chỉ: Đường C, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Tuyết T3, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B.
(Bà Lê Thị Hằng N, bà Lê Cẩm V có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Minh T là bà Lê Thị Hằng N trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Lê Thị N1 (là bà nội của bà Lê Thị Hằng N) tặng cho bà N phần đất nêu trên và bà N đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2012. Đến năm 2019, bà N chuyển nhượng phần đất nêu trên cho bà Lê Minh T. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng và có công chứng chứng thực. Đồng thời, bà T đã hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chỉnh lý biến động sang tên bà Lê Minh T (trang 3) và bà T đang quản lý bản chính Giấy chứng nhận, không có thế chấp cho tổ chức tín dụng nào. Khi chuyển nhượng phần đất trên, bà T biết bà Lê Cẩm V là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhưng bà N có nói khi nào có nhu cầu sử dụng thì bà V sẽ dọn đi nên bà T vẫn nhận chuyển nhượng. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, bà T chưa từng quản lý, sử dụng phần đất này vì bà T chưa có nhu cầu sử dụng.
Nay, bà Lê Minh T yêu cầu bà Lê Cẩm V giao trả phần đất có diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50, đất tọa lạc số 85/7, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Theo Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Cẩm V trình bày: Nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của cụ Lê Thị N1 (là mẹ của bà V) nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị B1 vào năm 1971. Khi nhận chuyển nhượng đất là có căn nhà (nhà vách ván thông, mái lợp tol, diện tích đất gắn liền với căn nhà ngang 4m x dài 11m = 44m²), có giấy tay sang bán. Sau khi nhận chuyển nhượng nhà và đất, mẹ bà trực tiếp quản lý, sử dụng. Đến khoảng năm 2012, do hoàn cảnh khó khăn nhà nước mới cho mẹ bà 28.000.000 đồng để cất lại căn nhà tình nghĩa. Vào ngày 06/7/2007 mẹ bà có lập Tờ di chúc với nội dung để lại toàn bộ căn nhà gắn liền với đất tranh chấp cho bà. Đến năm 2013, mẹ bà chết và bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần nhà, đất này cho đến nay. Sau khi cụ N1 (chết năm 2013) thì gia đình không có tiến hành chia di sản thừa kế vì cụ N1 chỉ có duy nhất 01 tài sản là căn nhà gắn liền với đất (hiện đang tranh chấp) đã di chúc lại cho bà. Đến năm 2022, bà làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới biết phần nhà, đất tranh chấp trên đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Hằng N. Sau đó, bà N đã chuyển nhượng phần đất trên cho bà Lê Minh T và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đã chỉnh lý biến động sang tên bà Lê Minh T vào năm 2019.
Cha bà tên Lê Văn B2 (chết khoảng năm 1971, 1972), mẹ bà tên Lê Thị N1 (chết năm 2013) có 03 người con gồm: Lê Văn B (chết năm 2005), Lê Văn B3 (chết không vợ con) và Lê Cẩm V (là bà). Ngoài ra, cha mẹ bà không còn người con nào khác. Ông Lê Văn B có vợ Trần Thị N2 (chết năm 1993) và có 03 người con: Lê Thị Hằng N, Lê Thị Mỹ D và Lê Thị Mỹ D1.
Nay, bà Lê Cẩm V không đồng ý đối với yêu cầu của bà T về việc giao trả nhà và đất vì nhà và đất này mẹ bà để thừa kế lại cho bà. Đồng thời, bà Lê Cẩm V yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do Ủy ban nhân dân thành phố B đã cấp cho bà Lê Thị Hằng N vào ngày 20/11/2012 đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50, địa chỉ đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và hủy phần chỉnh lý biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B về việc chuyển nhượng cho bà Lê Minh T ngày 01/8/2019.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Hằng N trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà nội bà là cụ Lê Thị N1 nhận chuyển nhượng của người khác (không biết ai) vào năm 1971, khi nhận chuyển nhượng đất có căn nhà (nhà lá), nhận chuyển nhượng đất không biết diện tích bao nhiêu, có giấy mua bán nhưng hiện nay bà không biết ai giữ vì lúc đó bà được bà N1 cho xem. Đến khoảng năm nào bà không nhớ thì Nhà nước có xây nhà tình thương cho cụ N1 (chính là căn nhà bà V đang ở hiện nay). Đến năm 2012, cụ N1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ khi nhận chuyển nhượng, cụ N1 quản lý, sử dụng nhà, đất này. Cũng trong năm 2012, khi đó cụ N1 còn minh mẫn đã làm thủ tục tặng cho bà nhà, đất nêu trên. Lý do tặng cho bà là vì bà V về sống bên chồng nên cụ N1 tặng cho bà nhà, đất này và bà được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2012. Sau khi cụ N1 làm thủ tục tặng cho bà nhà, đất nêu trên thì cụ N1 vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng, bà không có quản lý, sử dụng. Đến năm 2019, bà chuyển nhượng nhà, đất nêu trên cho bà Lê Minh T và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chỉnh lý biến động sang tên bà T.
Sau khi cụ N1 chết (không nhớ năm nào), vì thấy bà Lê Cẩm V khó khăn nên bà cho bà V mượn nhà, đất trên để ở, việc cho mượn không có giấy tờ. Sau khi cho mượn nhà, đất khoảng 02 năm thì bà cần nên yêu cầu bà V giao trả nhưng bà V không trả nên hai bên xảy ra tranh chấp. Khi đó bà có báo với chính quyền địa phương nhưng chưa được giải quyết thì bà V khởi kiện bà. Hiện nay, bà V là người quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với đất. Khi bà chuyển nhượng cho bà T thì bà V không biết nhưng sau đó bà T đến đòi thì bà V biết việc bà chuyển nhượng nhà, đất cho bà T. Bà chưa từng nghe cụ N1 nói đến Tờ di chúc để thừa kế toàn bộ nhà, đất tranh chấp cho bà V.
Cụ N1 và ông Lê Văn B2 (chết 1972) có tất cả 03 người con gồm: Lê Văn B (là cha bà đã chết năm 2005), ông Lê Văn B3 (chết không vợ con) và bà Lê Cẩm V. Ngoài ra, ông bà nội bà không còn người con nào khác. Ông Lê Văn B có vợ là Trần Thị N2 (chết năm 1993) có 03 người con gồm: Lê Thị Hằng N, Lê Thị Mỹ D và Lê Thị Mỹ D1. Ngoài ra, cha mẹ bà không còn người con nào khác.
Nay bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Lê Cẩm V vì phần đất là của cụ N1 đã tặng cho bà hợp pháp và bà cũng không đặt ra yêu nào khác.
Đại diện Ủy ban nhân dân thành phố B bà Lê Kim T2 trình bày:
Đất có nguồn gốc là của cụ Lê Thị N1 đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BK 689447 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 16/10/2012. Đến tháng 11/2012, cụ N1 tặng cho quyền sử dụng đất lại cho bà Lê Thị Hằng N theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được Văn phòng C1 ký ngày 17/10/2012 (số 1238, Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD) và bà N được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689672 ký ngày 20/11/2012. Tiếp tục đến năm 2019, bà N chuyển nhượng quyền sử dụng nêu trên lại cho bà Lê Minh T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C2 ký chứng thực ngày 29/7/2019 (số công chứng 910, Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD). Được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B ký biến động tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689672 ngày 01/8/2019. Từ những cơ sở trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xem xét giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật hiện hành.
Đại diện Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B trình bày:
Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do Ủy ban nhân dân thánh phố B cấp cho bà Lê Thị Hằng N ngày 20/11/2012. Căn cứ Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”. Do đó, việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh. Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai thành phố B không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện hủy Giấy chứng nhận của bà Lê Cẩm V. Hồ sơ chỉnh lý biến động trên trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do chuyển nhượng quyền sử dụng từ bà Lê Thị Hằng N sang bà Lê Minh T, đã được lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị Mỹ D trình bày: Bà là con của ông Lê Văn B. Vì hoàn cảnh gia đình nên xin vắng mặt cho đến cuối phiên tòa xét xử vụ án. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Bà Lê Thị Mỹ D1, ông Diệp Minh T1, bà Diệp Thùy D2, bà Diệp Thanh L: Không có lời trình bày.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Minh T về việc yêu cầu bà Lê Cẩm V giao trả diện tích đất 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ số 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Buộc bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 có nghĩa vụ giao trả cho bà Lê Minh T căn nhà gắn liền với đất tổng diện tích 55,3m² thuộc thửa đất số 237, tờ bản đồ số 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Cụ thể:
Hướng Đông giáp đất bà Nguyễn Thị M, có số đo 11,14m;
Hướng Tây giáp đất bà Nguyễn Thị Kim C và bà Trần Thị Ngọc B4, có số đo 1,05m + 3,25m + 0,96m + 8,16m;
Hướng Nam giáp đường bê tông, có số đo 0,42m + 3,62m;
Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị M, có số đo 1,14m + 2,79m + 5,27m.
(Kèm theo Bản án là Mặt bằng hiện trạng khu đất tranh chấp lập ngày 29/3/2023)
- Buộc bà Lê Minh T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị căn nhà, công trình, vật kiến trúc và các cây trồng trên đất tranh chấp cho bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 số tiền 44.433.000 đồng. Bà Lê Minh T được sở hữu căn nhà, công trình, vật kiến trúc và các cây trồng trên đất tranh chấp.
- Buộc bà Lê Minh T hỗ trợ công sức gìn giữ nhà, đất và chi phí di chuyển chỗ ở khác cho bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 được quyền lưu cư thời hạn 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để tìm kiếm chỗ ở khác giao trả nhà, đất cho bà Lê Minh T.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Cẩm V về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Lê Thị Hằng N vào ngày 20/11/2012 đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50 và hủy phần chỉnh lý biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chuyển quyền sử dụng đất cho bà Lê Minh T ngày 01/8/2019 đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2023, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Căn nhà nói trên tôi đã được mẹ tôi là bà Lê Thị N1 di chúc cho tôi toàn quyền sở hữu; tôi hiện đang quản lý, sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc mẹ tôi tặng cho và được chỉnh lý biến động sang tên bà Lê Thị Hằng N, bà N chuyển nhượng lại cho bà T là không đúng luật định, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu của nguyên đơn.
Phía nguyên đơn trình bày:
Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đề nghị không chấp nhận kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm:
Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Các tình tiết có trong hồ sơ vụ án thể hiện sau khi viết di chúc cho bà Cẩm V, bà Lê Thị N1 đã tặng cho toàn bộ căn nhà cho bà Lê Thị Hằng N. Việc tặng cho giữa bà N1 và bà Hằng N, bà N chuyển nhượng cho bà Minh T là phù hợp quy định của pháp luật do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Cẩm V, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Cẩm V làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét nội dung kháng cáo:
- [2.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:
Các đương sự đều thống nhất xác định nguồn gốc nhà, đất hiện đang tranh chấp là của cụ Lê Thị N1 đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Minh T xác định: Nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của cụ Lê Thị N1 (là bà nội bà Lê Thị Hằng N) tặng cho bà N phần và bà N đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm 2012. Đến năm 2019, bà N chuyển nhượng nhà, đất nêu trên cho bà Lê Minh T. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng và có công chứng chứng thực. Đồng thời, bà T đã hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chỉnh lý biến động sang tên bà Lê Minh T (trang 3). Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, bà T chưa từng quản lý, sử dụng vì bà T chưa có nhu cầu sử dụng.
Theo bị đơn bà Lê Cẩm V xác định: Nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của cụ Lê Thị B1 tự khai phá. Ngày 28/12/1971, cụ B1 chuyển nhượng cho cụ Lê Thị N1 (mẹ của bà). Khi nhận chuyển nhượng là căn nhà gắn liền với đất diện tích ngang 4m x dài 11m = 44m², có giấy tay sang bán. Sau khi nhận chuyển nhượng thì cụ N1 quản lý, sử dụng. Đến năm 2007, cụ N1 lập di chúc để thừa kế căn nhà gắn liền với đất cho bà. Năm 2013, cụ N1 chết thì căn nhà gắn liền với đất nêu trên do bà quản lý, sử dụng cho đến nay.
- [2.2] Căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nguồn gốc nhà, đất tranh chấp như sau:
Nguồn gốc căn nhà gắn liền với đất là của cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Lê Thị B1 khai phá trước năm 1971. Ngày 28/12/1971 cụ B1 chuyển nhượng cho cụ Lê Thị N1. Cụ Năm quản lý, sử dụng đến năm 2007 lập di chúc cho con gái là bà Lê Cẩm V toàn bộ căn nhà gắn liền với đất trên, đồng thời năm 2012, cụ N1 lập hợp đồng tặng cho phần đất (không có tài sản trên đất) cho cháu nội là bà Lê Thị Hằng N và bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 55,3m². Năm 2019, bà N lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Minh T và chỉnh lý biến động chuyển quyền sử dụng cho bà T diện tích đất 55,3m².
- [2.3] Xét quá trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp:
Theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Minh T: Từ khi nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho đến nay cả bà N và bà T đều không có quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp.
Bà Lê Cẩm V xác định: Lúc nhỏ bà sống tại căn nhà trên, đến khi có gia đình bà sống bên nhà chồng, kể từ khi cụ N1 chết vào năm 2013 thì bà là người quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với đất cho đến nay không có ai tranh chấp.
- [2.4] Chứng cứ của các bên:
Bà Lê Cẩm V cung cấp cho Tòa án Tờ di chúc của cụ Lê Thị N1 lập ngày 06/7/2007 (Bút lục số 07), bà Lê Thị Hằng N cung cấp cho Tòa án Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (cụ N1 tặng cho bà N) lập ngày 17/10/2012 (Bút lục số 185).
Tờ di chúc của cụ Lê Thị N1 lập ngày 06/7/2007 (Bút lục số 07) có nội dung: Cụ Lê Thị N1 di chúc cho con gái Lê Cẩm V được quyền thừa kế và định đoạt diện tích đất thổ cư và căn nhà gắn liền với đất diện tích ngang 4m x dài 11m = 44m² với điều kiện con gái phải chăm sóc cụ N1 đến trăm tuổi già. Tờ di chúc được chứng thực tại Trụ sở Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố B. Tại thời điểm cụ N1 lập di chúc để thừa kế cho bà V thì cụ N1 vẫn còn sống nên thời điểm này di chúc chưa phát sinh hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đều không tranh chấp và cũng không yêu cầu xem xét tính hợp pháp của di chúc. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện để yêu cầu giải quyết ở một vụ án độc lập khác khi có yêu cầu.
- [2.5] Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 17/10/2012 (Bút lục số 185) có nội dung:
Cụ Năm tặng cho bà Lê Thị Hằng N quyền sử dụng đất diện tích 55,3m² (đất ở đô thị), hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập thành văn bản, có công chứng nên đáp ứng các điều kiện đối với giao dịch về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi được tặng cho, bà N đăng ký và đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689672 ký ngày 20/11/2012 đối với diện tích 55,3m². Do nhà chưa có Giấy tờ về quyền sở hữu nên hợp đồng tặng cho chỉ thể hiện cho đất không có căn nhà nên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thể hiện về nhà ở: chưa chứng nhận quyền sở hữu.
Cụ N1 lập di chúc để thừa kế cho bà V ngày 06/7/2007. Đến ngày 17/10/2012, cụ N1 lập hợp đồng tặng cho bà N quyền sử dụng đất. Ngày 20/11/2012, bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Năm 2013, cụ N1 chết. Như vậy, hợp đồng tặng cho bà N quyền sử dụng đất nêu trên phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm đăng ký theo quy định tại Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- [2.6] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/7/2019 có nội dung: bà Lê Thị Hằng N chuyển nhượng phần đất diện tích 55,3m² cho bà Lê Minh T. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng chứng thực, bà T thực hiện xong nghĩa vụ tài chính và đã đăng ký được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chỉnh lý biến động trang 3 chuyển quyền sử dụng cho bà T.
Như vậy, Hợp đồng tặng cho và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên đều thực hiện đúng quy định pháp luật theo quy định tại Điều 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà T đã được chỉnh lý biến động sang tên chủ quyền, do đó yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của bà T là có căn cứ chấp nhận.
- [2.8] Bà V cùng với ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thùy D2, Diệp Thanh L sinh sống trong căn nhà từ 2013 cho đến nay nên phải có nghĩa vụ giao trả căn nhà gắn liền với đất nêu trên cho bà Lê Minh T. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Minh T buộc bà V cùng với ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thùy D2, chị Diệp Thanh L giao trả phần đất và căn nhà gắn liền với đất cho bà T.
Bà T là người chuyển nhượng nhà và đất hợp pháp từ bà N, cấp sơ thẩm buộc bà T hoàn trả lại giá trị nhà, cây trồng và công sức giữ gìn cho bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thùy D2, chị Diệp Thanh L. Theo Biên bản định giá tài sản tranh chấp thể hiện: Căn nhà, hàng rào, sân xi măng, các cây trồng có tổng giá trị bằng 44.433.000 đồng, cộng 20.000.000 tiền công sức là không phù hợp, tuy nhiên nội dung này không bị phía bà T kháng cáo nên Hội đồng xét xử giữ nguyên. Bà V, ông T1, chị D2, chị L được quyền lưu cư thời hạn 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để tìm kiếm chỗ ở khác để giao trả nhà, đất cho bà T.
- [2.9] Xét yêu cầu của bà Lê Cẩm V về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Lê Thị Hằng N vào ngày 20/11/2012 đối với phần đất có diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50 và hủy phần chỉnh lý biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B về việc chuyển nhượng cho bà Lê Minh T ngày 01/8/2019, thấy rằng:
Xét hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho cụ Lê Thị N1, bà Lê Thị Hằng N và bà Lê Minh T:
Cụ Lê Thị N1 nhận chuyển nhượng căn nhà gắn liền với đất của cụ Lê Thị B1 vào ngày 28/12/1971, cụ N1 sử dụng đến ngày 13/5/1993 có kê khai nộp thuế và sử dụng liên tục, ổn định không tranh chấp với ai. Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689447 ngày 16/10/2012 cho cụ Lê Thị N1 diện tích 55,3m² (đất ở tại đô thị). Tại Thông báo nộp thuế nhà đất năm 1993 thì diện tích kê khai nộp thuế 38,5m², diện tích đo đạc thực tế tăng so với T5 khai nộp thuế là do thời điểm kê khai không đo đạc thực tế nên về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho cụ Lê Thị N1 là đúng quy định pháp luật.
Đến ngày 17/10/2012, cụ N1 tặng cho quyền sử dụng đất lại cho bà Lê Thị Hằng N theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được công chứng tại Văn phòng C1 ký ngày 17/10/2012 (số 1238, Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD) và bà N được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689672 ký ngày 20/11/2012.
Tiếp tục đến năm 2019, bà N chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên lại cho bà Lê Minh T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C2 ký chứng thực ngày 29/7/2019 (số công chứng 910, Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD). Đồng thời, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B ký biến động tại trang 3 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 689672 ngày 01/8/2019 nên về trình tự, thủ tục cấp là đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật.
- [3] Căn cứ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Cẩm V, giữ nguyên án sơ thẩm
- [4] Do không được chấp nhận kháng cáo, bà V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
- [2.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Cẩm V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Minh T về việc yêu cầu bà Lê Cẩm V giao trả diện tích đất 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ số 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Buộc bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 có nghĩa vụ giao trả cho bà Lê Minh T căn nhà gắn liền với đất tổng diện tích 55,3m² thuộc thửa đất số 237, tờ bản đồ số 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Cụ thể:
Hướng Đông giáp đất bà Nguyễn Thị M, có số đo 11,14m;
Hướng Tây giáp đất bà Nguyễn Thị Kim C và bà Trần Thị Ngọc B4, có số đo 1,05m + 3,25m + 0,96m + 8,16m;
Hướng Nam giáp đường bê tông, có số đo 0,42m + 3,62m;
Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị M, có số đo 1,14m + 2,79m + 5,27m.
(Kèm theo Bản án là Mặt bằng hiện trạng khu đất tranh chấp lập ngày 29/3/2023)
- Buộc bà Lê Minh T có nghĩa vụ hoàn trả giá trị căn nhà, công trình, vật kiến trúc và các cây trồng trên đất tranh chấp cho bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 số tiền 44.433.000 đồng. Bà Lê Minh T được sở hữu căn nhà, công trình, vật kiến trúc và các cây trồng trên đất tranh chấp.
- Buộc bà Lê Minh T hỗ trợ công sức gìn giữ nhà, đất và chi phí di chuyển chỗ ở khác cho bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Bà Lê Cẩm V, ông Diệp Minh T1, chị Diệp Thanh L, chị Diệp Thùy D2 được quyền lưu cư thời hạn 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để tìm kiếm chỗ ở khác giao trả nhà, đất cho bà Lê Minh T.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Cẩm V về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 689672 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho bà Lê Thị Hằng N vào ngày 20/11/2012 đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50 và hủy phần chỉnh lý biến động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B chuyển quyền sử dụng đất cho bà Lê Minh T ngày 01/8/2019 đối với diện tích 55,3m² thuộc thửa 237, tờ bản đồ 50, đất tại số H, Khóm F, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 2.129.417 đồng. Bà T không phải chịu, bà T đã nộp đủ và đã chi phí hết nên buộc bà Lê Cẩm V hoàn trả lại cho bà T số tiền 2.129.417 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
- Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
- Bà Lê Minh T không phải chịu. Bà T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000300 ngày 07/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
- Bà Lê Cẩm V phải chịu 300.000 đồng án phí. Bà V đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000268 ngày 27/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Lê Cẩm V phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng bà V đã nộp tại Biên lai số 0000013 ngày 11/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Thúy Hòa |
Dương Tuấn Vinh |
|
Nguyễn Thị Cúc |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 948/2024/DSPT ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp “đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
- Số bản án: 948/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
