|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 948/2024/DS – ST Ngày: 30-9-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Võ Kim Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Diệu Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 346/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1222/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1438/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; Địa chỉ: B L, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1995; Địa chỉ; A - A N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 2098/UQ-BDH.NCB2 ngày 26/3/2024)(có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: A Kênh T, phường H, quận T, Tp. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/03/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị U là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Gọi tắt là Ngân hàng) với bà Ngô Thị L có ký kết hợp đồng tín dụng cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022.
Số tiền nhận nợ: 1.890.000.000 đồng.
Thời hạn vay: 204 tháng.
Mục đích vay: Hoàn tiền mua bất động sản.
Lãi suất vay: Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 29/07/2022: 12.5%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức Lãi suất vay bằng lãi suất cơ sở + biên độ 4.2%/năm.
Lãi quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Lãi suất chậm trả lãi: Bằng 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Trả nợ gốc: Trả nhiều lần theo kỳ, ân hạn gốc 06 tháng. Sau đó trả nợ gốc 01 tháng/kỳ, trong vòng 198 kỳ. Lần trả nợ gốc đầu tiên kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên vào ngày 25/11/2022
Trả nợ lãi: Hàng tháng, ngày trả lãi vay đầu tiên ngày 25/05/2022. Các ngày trả lãi vay tiếp theo: ngày 25 hàng tháng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà Ngô Thị L đã ký Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 026/22/HĐTC-9324 ngày 29/04/2022, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 408422, thửa đất số: 842, tờ bản đồ số: 6, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài, số vào sổ cấp GCN: CS06799 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/05/2021, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 26/04/2022, đứng tên bà Ngô Thị L.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên bà Ngô Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tạm tính đến ngày 15/08/2024 bà Ngô Thị L chỉ thanh toán cho Ngân hàng N1 tổng số tiền là 152.097.350 đồng (nợ gốc là 9.546.906 đồng, nợ lãi là 142.550.444 đồng), do vậy khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc đề nghị bà Ngô Thị L1 nợ vay nhưng bà L không thực hiện nghĩa vụ.
Tạm tính đến ngày 30/9/2024 tổng số tiền gốc và lãi bà Ngô Thị L còn nợ Ngân hàng là: 2.440.447.519 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.880.453.093 đồng; Nợ lãi trong hạn: 475.360.370 đồng; Nợ lãi quá hạn: 39.377.185 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi: 45.256.871 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án tuyên buộc:
- Bà Ngô Thị L phải trả cho N1 tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 2.440.447.519 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.880.453.093 đồng; Nợ lãi trong hạn: 475.360.370 đồng; Nợ lãi quá hạn: 39.377.185 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi: 45.256.871 đồng.
Yêu cầu bà L trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Bà Ngô Thị L phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022.
- Nếu Bà Ngô Thị L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên, thì NCB được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 408422, thửa đất số: 842, tờ bản đồ số: 6, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn. Thời hạn sử dụng: Lâu dài, số vào sổ cấp GCN: CS06799 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/05/2021, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 26/04/2022, đứng tên bà Ngô Thị L để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền phát mãi từ tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết các khoản nợ tại Ngân hàng, bà Ngô Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.
- Buộc bà Ngô Thị L phải chịu mọi chi phí tố tụng phát sinh trong đó bao gồm chi phí tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn – bà Ngô Thị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, Điều 203, Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 248, Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
+ Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 được ký kết giữa Ngân hàng và bà L là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó yêu cầu của ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí tính theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ còn thiếu của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ tranh chấp trên là “ Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn bà Ngô Thị L có hộ khẩu thường trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng:
+ Về thủ tục ủy quyền: Xét, Giấy ủy quyền số 2098/UQ-BDH.NCB2 ngày 26/3/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q ủy quyền cho bà Nguyễn Thị U tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
+ Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:
Đại diện nguyên đơn – bà Nguyễn Thị U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà U.
Bị đơn bà Ngô Thị L có hộ khẩu thường trú ở quận T, tuy nhiên hiện nay đi đâu không rõ. Do đó Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (đăng báo, đài, cổng thông tin điện tử Tòa án..) đối với bị đơn bà Ngô Thị L. Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã thông báo cụ thể thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thời gian mở phiên tòa lần 01, hoãn phiên tòa mở lại phiên tòa lần 02 theo khoản 4 Điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng bà L vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Xét, Ngân hàng yêu cầu bà L thanh toán số tiền còn nợ tính tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 2.440.447.519 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.880.453.093 đồng; Nợ lãi trong hạn: 475.360.370 đồng; Nợ lãi quá hạn: 39.377.185 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi: 45.256.871 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi bà L trả hết nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét, hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Ngô Thị L thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 385, Điều 388 và Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét, trong quá trình thực hiện hợp đồng bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển số nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính từ thời gian thực hiện hợp đồng đến nay bà L chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 9.546.907 đồng tiền gốc. Nay Ngân hàng yêu cầu bà L trả số nợ gốc còn thiếu là 1.880.453.093 đồng là có cơ sở chấp nhận.
- Về nợ lãi: Ngân hàng đã xuất trình đầy đủ các căn cứ về việc điều chỉnh lãi suất phù hợp với quy định pháp luật. Sau khi nhận số tiền vay, bà L chỉ trả được số tiền lãi là 142.550.444 đồng và vi phạm việc thanh toán cho đến nay. Do đó bị đơn đã vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết nên phải có trách nhiệm thanh toán số tiền lãi còn thiếu là phù hợp với quy định. Theo đó ngoài tiền lãi suất trong hạn, quá hạn thì bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký kết là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 21 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Xét, yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏathuận của hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 026/22/HĐTC-9324 ngày 29/04/2022. Hội đồng xét xử nhận định:
Để bảo đảm toàn bộ khoản vay của mình, bà Ngô Thị L - là chủ sở hữu tài sản cùng với ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 026/22/HĐTC-9324 ngày 29/04/2022 có xác nhận của Phòng Công chứng Võ Văn N, Tỉnh Long An, số công chứng 3541, quyển số 08/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/4/2022 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, Tỉnh Long An. Tại Điều 1 của hợp đồng thế chấp thỏa thuận về nghĩa vụ được đảm bảo như sau: “...2.Nghĩa vụ đảm bảo đảm là nghĩa vụ trả Các khoản phải trả...3.Các khoản phải trả nêu tại Hợp đồng này bao gồm nhưng không giới hạn: nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, tiền phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí...nghĩa vụ tài chính khác mà bên B có nghĩa vụ trả cho bên A theo quy định tại Hợp đồng hạn mức, Hợp đồng cho vay...”.
Xét, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị L. Việc ký kết hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự với Ngân hàng do các bên hoàn toàn tự nguyện. Về nội dung, hình thức của hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định về tài sản thế chấp và hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng, đăng ký thế chấp và đã được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật, nên hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên theo quy định tại các Điều 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp bà Ngô Thị L không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể: Quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 408422, thửa đất số: 842, tờ bản đồ số: 6, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài, số vào sổ cấp GCN: CS06799 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/05/2021, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 26/04/2022, đứng tên bà Ngô Thị L. Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/4/2022 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, Tỉnh Long An. Hiện trạng thực tế của tài sản thế chấp tại thời điểm xem xét là đất trống – Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân quận Tân Phú ngày 20/8/2024.
Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Ngô Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.
[2.3] Về thời hạn thanh toán: Xét, Ngân hàng yêu cầu bà Ngô Thị L thanh toán một lần số tiền nợ còn thiếu ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy bà L vi phạm thời hạn thanh toán đã lâu là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng nên có cơ sở để chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng và chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài...) là 3.206.074 đồng do bà Ngô Thị L phải chịu. Ngân hàng đã tạm nộp trước số tiền trên nên bà L phải có nghĩa vụ trả lại số tiền mà Ngân hàng đã tạm ứng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 2.440.447.519 đồng tương đương với án phí là 80.808.950 đồng.
Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 38.788.742 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147; khoản 4 Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 385; Điều 388 và Điều 405 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
- Buộc bà Ngô Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn nợ của hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 2.440.447.519 (hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn năm trăm mười chín) đồng; trong đó nợ gốc là 1.880.453.093 (một tỷ tám trăm tám trăm tám mươi triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn không trăm chín mươi ba) đồng; nợ lãi trong hạn là 475.360.370 (bốn trăm bảy mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ngàn ba trăm bảy mươi) đồng; Nợ lãi quá hạn là 39.377.185 (ba mươi chín triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm tám mươi lăm) đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 45.256.871 (bốn mươi lăm triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi mốt) đồng.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 01/10/2024 bà Ngô Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/KUNN/026/22/HĐCV-9324 ngày 29/04/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Nếu bà Ngô Thị L không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể: Quyền sử dụng đất tại địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 408422, thuộc thửa đất số: 842, tờ bản đồ số: 6, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng: Lâu dài, số vào sổ cấp GCN: CS06799 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/05/2021, cập nhật thay đổi lần gần nhất ngày 26/04/2022 đứng tên bà Ngô Thị L. Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/4/2022 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, Tỉnh Long An. Hiện trạng thực tế của tài sản thế chấp tại thời điểm xem xét là đất trống – Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân quận Tân Phú ngày 20/8/2024.
Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì bà Ngô Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bà Ngô Thị L thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho chủ tài sản.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng và chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (đăng báo, đài..) là 3.206.074 đồng do bà Ngô Thị L phải chịu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp trước số tiền 23.206.074 đồng, do đó bà Ngô Thị L phải có trách nhiệm trả lại số tiền nêu trên cho nguyên đơn.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Ngô Thị L phải chịu án phí là 80.808.950 (tám mươi triệu tám trăm lẻ tám ngàn chín trăm năm mươi) đồng.
H lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 38.788.742 (ba mươi tám triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi hai) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008095 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | CHỦ TỌA |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
| PHIÊN TÒA |
|
Bản án số 948/2024/DS – ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 948/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
