TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 947/2024/DS-ST Ngày: 30/08/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lữ Hà Minh
Bà Nguyễn Thị Huỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 922/2023/TLST-DS ngày 25/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-DS ngày 05/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QÐST-DS ngày 31/07/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Huy H, sinh năm 1999 (Giấy ủy quyền 900/UQ-QLN.24 ngày 19/06/2024)
Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, 444A-446 CMT8, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
(Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1995
Thường trú: 5 N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 15/8/2023 và các lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Huy H trình bày:
Ngày 17/02/2020, ông Nguyễn Thanh P1 ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Theo đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (sau đây gọi là Ngân hàng) đã đồng ý phát hành thẻ tín dụng loại Visa Signature số 4365999000149439, ngày cấp thẻ 27/02/2020, hiệu lực đến 02/2023, hạn mức tín dụng 100.000.000 đồng, hình thức đảm bảo tín chấp.
Quá trình sử dụng thẻ, ông P1 không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng. Ngày 21/06/2021 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn. Ngày 21/12/2022 Ngân hàng thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ số tiền chưa thanh toán.
Do đó Ngân hàng khởi kiện ông P1 yêu cầu thanh toán số tiền 200.568.044 đồng (Hai trăm không triệu đồng năm trăm sáu mươi tám nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) gồm nợ gốc là 94.856.230 đồng, nợ lãi quá hạn là 105.711.814 đồng tạm tính đến ngày 30/8/2024 phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020. Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông P1 vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn và đại diện nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 27/02/2020 và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định ông P1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng khởi kiện ông P1 về hợp đồng tín dụng thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng:
Theo kết quả xác minh của Công an P2, quận P, ông Nguyễn Thanh P1 đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ 5 N, Phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/02/2020 cho đến nay chổ ở hiện tại 10.5 Tháp A, Cao ốc A L, Phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặt khác xác minh tại Công an P3, quận A, ông Nguyễn Thanh P1 không thực tế cư trú tại căn hộ 10.05A Cao ốc Bảo gia, số A L, Phường A, Quận A không có đăng ký thường trú, tạm trú từ tháng 1/2023 đến nay. Và Công an P4, quận B xác minh ông Nguyễn Thanh P1 không có đăng ký thường trú, tạm trú, không thực tế cư trú tại địa chỉ D X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ về việc triệu tập ông P1 để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 31/7/2024 và phiên tòa hôm nay nhưng ông P1 vẫn vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.
Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, ông P1 không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ mặc dù Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020, Ngân hàng đồng ý phát hành cho ông P1 thẻ tín dụng loại Visa Signature số 4365999000149439, ngày cấp thẻ 27/02/2020, hiệu lực đến 02/2023, hạn mức tín dụng 100.000.000 đồng, hình thức đảm bảo tín chấp. Ông P1 cũng xác nhận đã đọc, hiểu rõ và đồng ý bị ràng buộc bởi Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (sau đây gọi là Bản điều khoản). Nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng nêu trên phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật.
Quá trình sử dụng thẻ, ông P1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Theo Điều 5, Điều 9, Điều 10, Điều 13 của Bản điều khoản, khi ông P1 không thanh toán khi đến hạn Ngân hàng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, chấm dứt việc sử dụng thẻ trước hạn, thu hồi nợ. Ngày 21/06/2021 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ từ việc sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn chưa thanh toán là nợ gốc là 94.856.230 đồng, nợ lãi quá hạn là 105.711.814 đồng; chấm dứt việc sử dụng thẻ trước thời hạn.
Theo Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ, Ngân hàng tính lãi suất quá hạn là 40,5%/năm theo Công văn số 374/NVCV-TTT.17 ngày 09/6/2017. Căn cứ Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, Ngân hàng áp dụng lãi suất phù hợp với quy định pháp luật.
Xét yêu cầu của Ngân hàng khởi kiện ông P1 phải thanh toán số tiền 200.568.044 đồng (Hai trăm triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) gồm nợ gốc là 94.856.230 đồng, nợ lãi quá hạn là 105.711.814 đồng tạm tính đến ngày 30/08/2024 phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 30/08/2024. Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 17 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Điều 13, Điều 18, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N; khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khi ông P1 không thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận Ngân hàng đã chuyển khoản nợ chưa thanh toán sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn là phù hợp với quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.028.402 đồng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 4.029.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0022423 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ khoản 2 Điều 17 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Điều 13, Điều 18, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
- Căn cứ khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 và khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Ông Nguyễn Thanh P1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền 200.568.044 đồng (Hai trăm triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) gồm nợ gốc là 94.856.230 đồng, nợ lãi quá hạn là 105.711.814 đồng tạm tính đến ngày 30/08/2024 phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 17/02/2020.
Án phí dân sự sơ thẩm
Ông Nguyễn Thanh P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.028.402 đồng (Mười triệu không trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm linh hai đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 4.029.000 đồng (Bốn triệu không trăm hai mươi chín nghìn không trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0022423 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và ông Nguyễn Thanh P1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Đăng Hà |
Bản án số 947/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 947/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
