|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 944/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-10-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh.
- Ông Nguyễn Văn Nguyện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa:
Không có.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 614/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 885/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 742/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1976; Địa chỉ: D ấp D (nay là ấp H), xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bà H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: D ấp D (nay là ấp H), xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 07/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống từ năm 2022, do tự tìm hiểu, có làm lễ ra mắt hai bên gia đình vào khoảng tháng 12/2021 và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/03/2023. Thời gian đầu chung sống cũng bình thường, đến khoảng 5/2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp. Mặc dù, ở chung nhà nhưng vợ chồng không còn có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung, bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và các vấn đề khác, bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Văn T gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Văn T vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn T, ông T có nơi cư trú tại địa chỉ D ấp D (nay là ấp H), xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn Văn T nhưng ông T vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 17 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre cấp ngày 08/03/2023 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Theo trình bày của bà H xác định giữa bà và ông T phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, mặc dù ở chung nhà nhưng ít có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T. Còn ông T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, yêu cầu về các yêu cầu khởi kiện của bà H.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì ông T vắng mặt, như vậy trên thực tế mâu thuẫn giữa bà H và ông T có diễn ra. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà H và ông T đã không đạt được, đời sống chung giữa hai vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn đối với ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về con chung: Bà H xác nhận giữa bà và ông T chung sống không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu về con chung của bà H, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về tài sản chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung giữa ông và bà H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của bà H, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
[9] Về nợ chung và các vấn đề khác: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông T vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung giữa ông và bà H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của bà H, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp ly hôn.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn T chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 17 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre cấp ngày 08/03/2023 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
- Về nợ chung và các vấn đề khác: Bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0005751 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đầy đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Cẩm |
Bản án số 944/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 944/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
