Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 943/2024/HS-PT

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Thủy

Ông Trần Văn Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 568/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

* Bị cáo:

Nguyễn Quang V, (Tên gọi khác: V1) sinh năm 1995, tại tỉnh Tiền Giang. Số CMND: [...]; Nơi cư trú: Số G khu phố M, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim Q và bà Tống Kim Y; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 02/01/2021, chuyển tạm giam từ ngày 08/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang V:

Luật sư Vũ Phi L; Luật sư Lưu Tấn Anh T (có mặt); Luật sư Phạm Thị Việt H (vắng mặt) – Công ty L1 - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

* Bị hại:

  1. Nguyễn Anh H1, sinh năm 2002.

    Nơi cư trú: Số G khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  2. Hồ Nguyễn Minh T1, sinh năm 2002.

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 29/10/2019, Nguyễn Anh H1, sinh ngày 13/4/2002, cư trú ấp C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và Hồ Nguyễn Minh T2, sinh ngày 07/4/2002, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cùng với 03 người bạn gồm Nguyễn Quốc K (T3), sinh ngày 29/11/2001, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Huỳnh Văn P (King), sinh ngày 05/3/2002, cư trú ấp R, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và Lê Hoàng D, sinh ngày 14/01/2003, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến quán cà phê Lan D1, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang do chị Huỳnh Thị Bích D2, sinh năm 1993, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và anh Lữ Hồng C sinh năm 1978, cư trú ấp T, xã T, huyện C làm chủ uống nước và chơi đánh bài (không thắng thua bằng tiền). Thời điểm này, tại quán L2 còn có Lữ Ngọc Thiên K1, sinh ngày 20/7/2003, cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2019, có 01 nhóm khoảng 06 đến 08 đối tượng (không rõ số lượng và lai lịch nhân thân), trong đó có Nguyễn Quang V (Vinh B), điều khiển 03 đến 04 xe mô tô (không rõ đặc điểm, biển số) đến dừng xe trước quán. V bước xuống xe, tay phải cầm súng, loại súng ngắn bắn đạn bi bằng kim loại, màu nâu đen, đứng cách nhóm của H1 khoảng 07 đến 08 mét, dùng súng bắn một phát trúng vào phần cánh tay trái, hông trái và phần đùi chân trái của T2, làm T2 ngã xuống nền gạch. V tiếp tục dùng súng bắn một phát trúng vào hông trái của H1. V đi đến nơi K đang ngồi, chĩa nòng súng vào phần đầu của K định bắn. Lúc này, Khang quỳ gối đối diện V và van xin “Anh V đừng bắn em, em nè, em cháu bà Q1 nè”. Do trước đây, V từng biết K nên V không bắn. Sau đó, V cầm cây súng trên, lên xe các đối tượng đang chờ sẵn, tẩu thoát. H1T2 được mọi người đưa đi cấp cứu.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 07 giờ ngày 30/10/2019 tại Quán L2 thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ghi nhận:

Quán cà phê Lan D1 nằm cặp theo hướng Đông của tuyến QL1, chạy dài theo hướng B – Nam rộng (20x11)m được xây dựng thô sơ, trần lợp tole, lá chầm, nền tráng xi măng, xung quanh vách tường lửng kiên cố, cột xi măng, bên trong quán có nhiều chiếc võng, bàn ghế nhựa, quay mặt về hướng Tây, quán không có cửa, sát góc tường hướng Đông Bắc của quán có xây dựng 01 phòng ngủ cho tiếp viên, phòng xây dựng bằng tường kiên cố, không tô, rộng (4,40 x 4,80)m, nền lót gạch men, có một cửa chính ra vào rộng (1,20x2)m loại cửa một cánh bằng kim loại quay mặt về hướng Tây. Từ cửa chính phòng ngủ này cách 6,50m về hướng Nam, vuông góc về hướng Đông 2,20m trên nền xi măng là khu vực xảy ra vụ Cố ý gây thương tích. Tại khu vực này kiểm tra trên nền xi măng phát hiện có vết màu đỏ bệch rộng (45x70) cm nghi là máu. Kiểm tra xung quanh khu vực phát hiện 27 viên kim loại màu đen, xám bị móp, méo, dẹp.

Giấy chứng nhận thương tích số 1567/CN-BVCR ngày 04/12/2019 của Bệnh viện C2 xác định Nguyễn Anh H1 có các vết thương:

  • Lâm sàng: + Bệnh nhân tỉnh, thở êm, sinh hiệu ổn.
  • + Vết thương thành ngực trái vùng hông lưng khoảng 02cm x 04cm.
  • + Bụng gồng cứng, ấn đau quanh rốn, đa tổn thương vùng lưng + bụng trái.
  • Cận lâm sàng: CT-Scan ngực có tiêm thuốc cản quang: Tổn thương phế nang thùy dưới phổi trái; Tràn dịch màng phổi trái; Nhiều dị vật cản quang tạo xảo ảnh kim loại vùng ngực – lưng, ghi nhận có dị vật cạnh thận trái và cạnh đại tràng trái.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 33/2020/TgT ngày 17/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Anh H1 kết luận:

  • Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều sẹo vết thương ngực ở giữa đường sát nách giữa và sau bên trái; Sẹo mổ trên dưới rốn; Tràn dịch màng phổi trái; Tổn thương phế nang; Còn dị vật; Mở bụng thám sát.
  • Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Anh H1 là 48% (Bốn mươi tám phần trăm). Thương tích do hỏa khí có mảnh sát thương gây nên.

Giấy chứng nhận thương tích số 1568/CN-BVCR ngày 04/12/2019 của Bệnh viện C2 xác định Hồ Nguyễn Minh T2 có các vết thương:

  • Lâm sàng: + Chân trái: Đa vết thương mặt trước ngoài đùi gối; 1/3 dưới đùi gối phù nề, mạch mu chân rõ, cử động ngón chân được.
  • + Tay trái: Đa vết thương vùng dưới cánh tay khuỷu tay phía sau ngoài, cử động ngón tay được.
  • + Tay phải: Đa vết thương ngón 5, bàn tay, cử động ngón tay yếu.
  • Cận lâm sàng: + X-Quang cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay trái: Nốt cản quang mô mềm cẳng tay.
  • + X-Q xương bàn ngón tay phải: Nốt cản quang mô mềm bàn tay; Gãy xương đốt gần ngón V.
  • + X-Quang đùi, khớp gối trái: Dị vật mô mềm vùng đùi, không thấy gãy xương đùi, gối.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 34/2020/TgT ngày 17/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Hồ Nguyễn Minh T2 kết luận:

  • Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mổ 1/3 giữa sau cánh tay trái, kt (7.5x0.8)cm; Nhiều sẹo vết thương từ 1/3 giữa sau ngoài cánh tay đến khuỷu tay trái; Nhiều sẹo vết thương mặt lưng ngón IV, V bàn tay phải; Sẹo mổ từ 1/3 giữa đến 1/3 dưới trước đùi trái, kt (14.5x1)cm; Nhiều sẹo vết thương từ 1/3 giữa trước đùi trái đến 1/3 dưới gối trái; Gãy đốt gần ngón II bàn tay phải; Còn dị vật.
  • Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hồ Nguyễn Minh T2 là 24% (Hai mươi bốn phần trăm). Thương tích do hỏa khí có mảnh sát thương gây nên.

Kết luận giám định số 2464/C09B ngày 07/5/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • 27 (Hai mươi bảy) viên kim loại màu đen bị biến dạng (ký hiệu A1) và 25 (Hai mươi lăm) viên kim loại màu đen bị biến dạng (ký hiệu A2) là các hạt kim loại hình cầu bị biến dạng, các hạt kim loại này có thể sử dụng làm hạt đạn cho loại đạn shotgun shell (đạn ghém) loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một

số loại súng shotgun, súng chế tạo thủ công nòng nhẵn hoặc đạn nhồi cho súng kíp. Không đủ cơ sở xác định các hạt đạn trên có cùng loại và loại vũ khí bắn ra.

  • Sử dụng súng phù hợp bắn với đạn shotgun shell mang các hạt đạn như trên vào cơ thể người có thể gây thương vong.

Biên bản thực nghiệm điều tra lúc 20 giờ ngày 14/6/2023 tại Công an huyện C thể hiện:

  1. Tiến hành bố trí các điều kiện ánh sáng, khoảng cách, vị trí ngồi của bị hại, người làm chứng tương đồng khi xảy ra vụ án. Sau khi bị hại, người làm chứng đều xác định vị trí ngồi, điều kiện ánh sáng tại thời điểm thực nghiệm điều tra tương đồng với vị trí, điều kiện ánh sáng khi xảy ra vụ án.
  2. Bố trí cho bị cáo Nguyễn Quang V cùng những người được chọn nhận dạng và thực nghiệm có đặc điểm tương đồng gồm Lê Hoàng S, Nguyễn Văn K2 và Nguyễn Thanh S1 đi từ bên ngoài bước vào vị trí đã xác định trước (cách vị trí bị hại, người làm chứng Nguyễn Quốc K từ 7m và 4,6m). Yêu cầu bị hại, người làm chứng có nhận ra được bị cáo Nguyễn Quang V hay không?

    Kết quả: Bị hại và người làm chứng xác định người này là Nguyễn Quang V là người cầm súng bắn gây thương tích cho bị hại, đe dọa người làm chứng vào ngày 30/10/2019.

  3. Thực nghiệm lại diễn biến hành vi và kiểm tra, đo vẽ ghi nhận lại vị trí các bị hại sau khi bị trúng đạn, tư thế của Nguyễn Quốc K quỳ van xin khi bị cáo cầm súng chĩa vào đầu. Cho bị cáo Nguyễn Quang V cùng hai người được chọn bước đi từ bên ngoài vào vị trí bị hại và người làm chứng ngồi và diễn tả lại toàn bộ diễn biến sự việc. Kết quả: Bị cáo Nguyễn Quang V đi đến cách vị trí bàn bị hại, người làm chứng ngồi là 5m thì V dùng súng bắn bị hại Hồ Nguyễn Minh T2 té ngã do bị trúng đạn. Sau đó V đi về phía trước đến vị trí cách bàn khoảng 04 m thì cầm súng bắn vào người Nguyễn Anh H1, sau khi bị trúng đạn Nguyễn Anh H1 bỏ chạy ra phía cửa sau đứng nấp. Sau khi Nguyễn Quang V bắn T2 té ngã thì Nguyễn Quốc K nấp sau bàn cách vị trí T2 té ngã là 01 m. Sau đó Nguyễn Quốc K bò sang bên phải bàn nước đến vị trí cách bàn nước 4,6m và V cũng đi theo hướng của K đến vị trí cách bàn nước khoảng 3,1 m thì đứng lại cầm súng bằng hai tay chĩa vào đầu K, K ở tư thế quỳ gối van xin bị cáo V, lúc này khoảng cách K và bị cáo V là 1,5m.
  4. Xác định khoảng cách K quỳ van xin khi V đứng chĩa súng vào đầu đến vị trí của T2H1 cũng như Thiên K1 có nghe rõ lời van xin của K đối với V hay không. Kết quả: Khoảng cách từ vị trí K quỳ van xin đến vị trí T2 nằm sau khi bị bắn là 4,6m, đến vị trí Nguyễn Anh H1 nấp là 06 m và đến phòng ngủ nơi Lữ Ngọc Thiên Kim n là 11 m. Với khoảng cách trên thì bị hại Nguyễn Anh H1, Hồ Nguyễn Minh T2 và người làm chứng Lữ Ngọc Thiên K1 đều nghe rõ lời của K van xin V.

Quá trình điều tra, bị cáo V không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, giai đoạn khi bị bắt, bị cáo khai nại thời điểm xảy ra sự việc (ngày 30/10/2019) bị cáo đang đi làm thuê, sau đó thay đổi lời khai là đang nhập viện điều trị nội trú ở Bệnh viện C2, thành phố Hồ Chí Minh, còn tại các phiên tòa sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành lại cho rằng đang nằm điều trị ở nhà cho

thuê trọ của anh Phạm Quốc C1 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên không có gây thương tích cho T2H1. Tuy nhiên, qua xác minh, Bệnh viện C2, thành phố Hồ Chí Minh xác định bị cáo V có đến điều trị hai lần nhưng không nhập viện điều trị nội trú vào ngày 30/10/2019 như V đã khai, cũng không có căn cứ nào chứng minh vào thời điểm xảy ra sự viện, V đang đi làm thuê hoặc đang nằm điều trị.

* Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đang tạm giữ

  • 27 (Hai mươi bảy) viên bi kim loại màu đen, xám bị móp, méo dẹp (thu tại hiện trường)
  • 25 (Hai mươi lăm) viên kim loại màu đen có đường kính khoảng 01mm (viên kim loại không tròn đều). T4 từ trong người bị hại Hồ N trong quá trình cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện C2.

Đối với cây súng Nguyễn Quang V dùng bắn bị hại, sau khi gây án V không bỏ lại hiện trường và không thừa nhận hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Anh H1 yêu cầu Nguyễn Quang V bồi thường:

  • Chi phí điều trị số tiền 20.847.965 đồng (hai mươi triệu tám tram bốn mươi bảy ngàn chín trăm sáu mươi lăm đồng).
  • Tiền xe từ Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh T đến bệnh viện C2 số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm ngàn đồng).
  • Tiền phục hồi sức khỏe số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
  • Tiền thu nhập bị mất 250.000 đồng x 90 ngày = 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng).
  • Thu nhập bị mất của người chăm sóc 300.000 đồng x 30 ngày = 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 44.700.000 đồng (bốn mươi bốn triệu bảy trăm ngàn đồng).

Tổng cộng: 109.247.965 đồng (một trăm lẻ chín triệu hai trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).

Bị hại Hồ Nguyễn Minh T2 yêu cầu Nguyễn Quang V bồi thường:

  • Chi phí điều trị thương tích 14.207.000 đồng (mười bốn triệu hai trăm lẻ bảy ngàn đồng).
  • Tiền xe từ Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh T đến bệnh viện C2 số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm ngàn đồng).
  • Tiền phục hồi sức khỏe số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
  • Tiền thu nhập bị mất 250.000 đồng x 90 ngày = 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng).
  • Thu nhập bị mất của người chăm sóc 280.000 đồng x 30 ngày = 8.400.000 đồng (tám triệu bốn trăm ngàn đồng).
  • Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 44.700.000 đồng (bốn mươi bốn triệu bảy trăm ngàn đồng).

Tổng cộng: 89.220.700 đồng (tám mươi chín triệu hai trăm hai mươi ngàn bảy trăm đồng).

* Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSTG – P2 ngày 26 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Giết người” quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Giết người”.
  2. Áp dụng: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 50; Điều 57 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2021.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/5/2024 bị cáo kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Nội dung kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo từ 6 tháng đến 01 năm tù.

Bị cáo cùng luật sư thống nhất trình bày:

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo nhận thức lại và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung của bản án sơ thẩm và ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường một phần cho các bị hại, hoàn cảnh bị cáo có cha mẹ già và rất khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, chấp kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo với mức giảm cao hơn mức của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang V làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, không kêu oan mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có sự thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, kết hợp xem xét các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, của những người làm chứng, kết quả thực nghiệm điều tra, thương tích của bị hại, giám định vật chứng, có căn cứ xác định:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2019, tại quán L2 ở tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, mặc dù không có mâu thuẫn từ trước nhưng Nguyễn Quang V có hành vi dùng súng (không rõ đặc điểm) bắn đạn kim loại, là hung khí nguy hiểm, bắn nhiều viên đạn bị trúng vào những vị trí trọng yếu, nguy hiểm đến tính mạng, hậu quả Nguyễn Anh H1 bị thương tích 48%, Hồ Nguyễn Minh T2 bị thương tích tỷ lệ 24%, đe doạ bắn vào đầu Nguyễn Quốc K. Việc bị hại H1T2 không chết là ngoài ý thức, mong muốn của bị cáo. Do đó bản án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây hoang mang, ảnh hưởng xấu rất lớn trong dư luận xã hội, xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng tính mạng của con người, dùng súng bắn trực tiếp trong phạm vi gần vào cơ thể của anh H1T2 là cố ý giết người, anh H1, T2 không chết là ngoài ý muốn của bị cáo; phạm tội với 02 người, sau đó bị cáo tiếp tục dí súng vào đầu anh K, do quen biết nên bị cáo dừng lại. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Hành vi của bị cáo là bất chấp, xem thường pháp luật, đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự chung, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe loại tội phạm ngày càng manh động, bất chấp pháp luật, coi thường tính mạng con người, có chiều hướng ngày càng gia tăng trong xã hội hiện nay.

Bản án sơ thẩm áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 50; Điều 57 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V 17 (mười bảy) năm tù là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường thêm cho phía bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới và được quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo và sớm trở lại với xã hội, trở thành công dân tốt.

[3] Các nội dung khác không bị kháng cáo, Hội đồng xét xử không xét.

[4] Do được chấp nhận kháng cáo, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Căn cứ nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang V, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2021.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đạt Trần Thị Thu Thủy

Dương Tuấn Vinh

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang;
  • - TTG, Bị cáo;
  • - Lưu: HS; VP; (HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Tuấn Vinh

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 943/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 943/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger