Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 943/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-10-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh.
  2. Ông Nguyễn Văn Nguyện.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa:

Không có.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 612/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 893/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 747/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/10/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 1994; Địa chỉ: D ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng N, sinh năm: 1994; Địa chỉ: C ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Anh N vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 10/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Nguyễn Hồng N chung sống từ năm 2019, do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, được Ủy ban nhân dân xã V, huyện B cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/02/2020. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, mặc dù cả hai khi đó còn sống chung nhà nhưng ít còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy, từ năm 2021 đến nay anh chị sống ly thân. Do đó, nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Hồng N.

Về con chung, chị và anh N chung sống có một con chung tên Nguyễn Ngọc Gia B, sinh ngày 03/9/2020, từ khi sống ly thân cho đến nay thì con do chị T nuôi dưỡng. Vì vậy khi ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hiện nay, chị T đi làm thu nhập cũng đủ nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung, chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh Nguyễn Hồng N gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Hồng N vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Hồng N, anh N có nơi cư trú tại địa chỉ C ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Hồng N, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Nguyễn Hồng N nhưng anh N vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2020 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Theo trình bày của chị T xác định giữa chị và anh N phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau, dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. Còn anh N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, yêu cầu về các yêu cầu khởi kiện của chị T.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì anh N vắng mặt, như vậy trên thực tế mâu thuẫn giữa chị T và anh N có diễn ra. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị T và anh N đã không đạt được, đời sống chung giữa hai vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, chị T yêu cầu ly hôn đối với anh N là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về con chung: Chị T xác nhận giữa chị và anh N chung sống có một con chung tên Nguyễn Ngọc Gia B, sinh ngày 03/9/2020. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng bà.

Còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu về con chung của chị T, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do chị T cung cấp để xem xét. Theo xác nhận thì hiện chị T nuôi dưỡng cháu B tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét đến khả năng của các đương sự về việc đảm bảo cuộc sống ổn định, tinh thần, sự phát triển tốt nhất cho cháu N1 nên căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Gia B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là thỏa đáng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu B khi ly hôn. Tuy nhiên, do đây là quyền lợi của trẻ do đó Hội đồng xét xử xét tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh N.

[8] Về tài sản chung: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của anh về tài sản chung giữa anh và chị T. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của chị T, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

[9] Về nợ chung: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của anh về nợ chung giữa anh và chị T. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của chị T, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T đối với bị đơn anh Nguyễn Hồng N về việc tranh chấp ly hôn.
    1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với anh Nguyễn Hồng N. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Nguyễn Hồng N chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2020 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
    2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T xác nhận giữa chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Nguyễn Hồng N có một con chung tên Nguyễn Ngọc Gia B, sinh ngày 03/9/2020. Hiện cháu Nguyễn Ngọc Gia B đang sống cùng chị Nguyễn Thị Cẩm T.

      Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia B, sinh ngày 03/9/2020 cho chị Nguyễn Thị Cẩm T tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Gia B đối với anh Nguyễn Hồng N.

      Anh Nguyễn Hồng N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
    4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
  2. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0005748 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị T đã nộp đầy đủ án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T và bị đơn anh Nguyễn Hồng N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND H. Bình Chánh (2);
  • - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1);
  • - UBND xã Vĩnh Lộc A, H. Bình Chánh,
  • Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Cẩm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 943/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 943/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger