Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 942/2024/DS-ST

Ngày 21 - 10 - 2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Kiều

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mây

Ông Võ Văn Tốt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1168/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1470/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 28/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H1;

Địa chỉ trụ sở: E N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

Địa chỉ liên lạc: Tầng B, Tòa nhà T, số A đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền: Đàm Xuân H, sinh năm 1994 (có mặt)

Bị đơn:

+ Ông Lâm Ngữ Cát L, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: 1 đường T, tổ D, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

+ Bà Trương Thị Kim T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: 65/5, tổ A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/12/2023, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 03/01/2024 và các bản tự khai trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H1 (viết tắt Ngân hàng) là ông Đàm Xuân H trình bày tại phiên tòa:

Về Hợp đồng tín dụng, thực hiện hợp đồng, thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán:

  • Đối với khoản vay thứ nhất:

    Ngày 17/01/2022, Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh Đ và ông Lâm Ngữ Cát L đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV có nội dung như sau:

    • - Hạn mức vay: 285.000.000 đồng;
    • - Thời hạn vay: 36 tháng từ 17/01/2022 đến 17/01/2025;
    • - Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân và gia đình;
    • - Lãi suất vay: 18%/năm;
    • - Lãi suất quá hạn: 150%/năm lãi suất trong hạn tương đương 27%/năm;
    • - Phương thức trả nợ: Nợ gốc trả ngày hàng tháng vào ngày 26 với số tiền 7.916.667 đồng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ giảm dần, ngày thanh toán vào ngày 26 của tháng.

    Ngày 25/01/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Lâm Ngữ Cát L, ngày 26/01/2022 ông Lâm Ngữ Cát L đã rút tiền mặt (chứng từ thể hiện là: Giấy lĩnh tiền mặt số 0010 ngày 26/01/2022) theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ký ngày 17/01/2022 với số tiền là 285.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 21/10/2024 ông Lâm Ngữ Cát L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 116.392.139 đồng, cụ thể:

    • - Về tiền nợ gốc: Từ ngày 26/02/2022 đến ngày 26/11/2023 và ngày 09/06/2023 ông L đã thanh toán gốc là: 82.055.681 đồng, từ ngày 10/06/2023 đến nay ông L đã không thanh toán bất kỳ khoản gốc nào;
    • - Về tiền nợ lãi trong hạn: Từ ngày 26/02/2022 đến ngày 25/11/2022 ông L đã thanh toán lãi trong hạn là: 34.301.383 đồng, từ ngày 26/11/2022 đến ngày 26/12/2022 ông L đã không thanh toán bất kỳ khoản nợ trong hạn nào;
    • - Về tiền nợ lãi quá hạn: Từ ngày 31/05/2022 đến ngày 25/11/2022 đã thanh toán lãi quá hạn là: 35.075 đồng, từ ngày 26/11/2022 đến nay ông L đã không thanh toán bất cứ khoản lãi quá hạn nào.

    Từ ngày 26/12/2024 ông Lâm Ngữ Cát L đã vi phạm một phần nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi, ngày 27/12/2022 ông Lâm Ngữ Cát L vi phạm toàn bộ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết, vì vậy Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc là 213.451.972 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn là 27%/năm (căn cứ theo điều 16. Chuyển nợ quá hạn tại Điều khoản điều kiện giao dịch chung về việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng được niêm yết chính thức trên website). Tính đến ngày 21/10/2024, ông Lâm Ngữ Cát L còn nợ Ngân hàng với số tiền: 310.677.229 đồng, trong đó: Nợ gốc: 202.944.319 đồng; Nợ lãi trong hạn: 6.507.499 đồng; Nợ lãi quá hạn: 101.225.411 đồng.

  • Đối với khoản vay thứ hai:

    Ngày 17/01/2022, Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh Đ và ông Lâm Ngữ Cát L ký kết Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng có nội dung như sau:

    • - Hạn mức thẻ: 10.000.000 đồng;
    • - Thời hạn sử dụng thẻ: 36 tháng từ 17/01/2022 đến 17/01/2025;
    • - Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân;
    • - Loại thẻ tín dụng: Daily Shopping;
    • - Lãi suất trong hạn: Căn cứ Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB và Biểu lãi suất, phí thẻ tín dụng tại Ngân hàng L1 áp dụng là 42%/năm;
    • - Lãi suất quá hạn: 145%/năm lãi suất trong hạn tương đương 60,9%/năm
    • - Phương thức trả nợ: Nợ gốc, lãi trả ngày hàng tháng vào ngày 25 hàng tháng với số dư nợ thực tế.

    Ngày 15/02/2022, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho ông Lâm N Cát L theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng ký ngày 17/01/2022 với hạn mức thẻ là 10.000.000 đồng, ngày 08/04/2022 ông Lâm Ngữ Cát L đã nhận thẻ và mã pin (chứng từ thể hiện là: Giấy xác nhận nhận thẻ, pin tại DVKH ngày 08/04/2024). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 21/10/2024 ông Lâm Ngữ Cát L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.559.735 đồng, cụ thể:

    • - Từ ngày 03/05/2022 đến ngày 02/08/2022 ông L đã thanh toán gốc là: 1.130.793 đồng, từ ngày 03/08/2022 đến nay ông L đã không thanh toán bất kỳ khoản nợ gốc nào;
    • - Từ ngày 02/06/2022 đến ngày 25/10/2022 ông L đã thanh toán lãi trong hạn là: 1.428.942 đồng, từ ngày 26/10/2022 đến ngày 25/11/2022 ông L đã không thanh toán được bất kỳ khoản nợ lãi trong hạn nào;
    • - Từ ngày 26/11/2022 đến nay ông L chưa thanh toán bất kỳ khoản lãi quá hạn nào.

    Từ ngày 26/11/2022 ông Lâm Ngữ Cát L vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc là 8.867.205 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn là 60,9%/năm.

    Tính đến ngày 21/10/2024, ông Lâm Ngữ Cát L còn nợ Ngân hàng với số tiền: 20.114.256 đồng, trong đó: Nợ gốc: 8.867.334 đồng; Nợ lãi trong hạn: 949.630 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.297.292 đồng.

Cả hai khoản vay nêu trên không có tài sản bảo đảm. Ngày 24/01/2022 vợ chồng ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng tại Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh Đ.

Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T liên đới trả cả 02 khoản nợ tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 21/10/2024, tổng số tiền nợ là 330.791.485 đồng (310.677.229 đồng + 20.114.256 đồng).

Kể từ ngày 22/10/2024, ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ký ngày 17/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/01/2022 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có trụ sở tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12.

Sau khi thụ lý, Toà án ban hành thông báo thụ lý, thông báo cho bị đơn, VKS đúng theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xác định tư cách của đương sự: Tòa án xác định nguyên đơn và bị đơn, trong vụ án theo đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại Điều 96, Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt theo đúng quy định tại Chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 09/01/2024, Tòa án thụ lý vụ án; Ngày 05/8/2024, Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử là chưa tuân thủ đúng thời hạn quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Kiến nghị Thẩm phán khắc phục về thời hạn đưa vụ án ra xét xử.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71, 86 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này không thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Sau khi Ngân hàng khởi kiện, bị đơn ông L, bà T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến bảo vệ quyền lợi của mình nên căn cứ khoản 2 Điều 92 BL TTDS năm 2015 tài liệu do nguyên đơn cung cấp và thừa nhận của nguyên đơn là căn cứ để chứng minh.

Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 17/01/2022, Ngân hàng TMCP H1 – Chi nhánh Đ và ông Lâm Ngữ Cát L đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV. Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay 285.000.000 đồng.

Ngày 15/02/2022, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho ông Lâm N Cát L theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng ký ngày 17/01/2022 với hạn mức thẻ là 10.000.000 đồng, ngày 08/04/2022 ông Lâm Ngữ Cát L đã nhận thẻ và mã pin (chứng từ thể hiện là: Giấy xác nhận nhận thẻ, pin tại DVKH ngày 08/04/2024).

Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật“ thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các bên thỏa thuận

Việc vi phạm hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ và thời hạn thanh toán của bị đơn đã thể hiện đầy đủ qua tài liệu cũng như số nợ đã trả, số tiền nợ chưa trả, thời điểm chuyển nợ lãi quá hạn của Ngân hàng đều có xác nhận của kế toán tín dụng.

Vì các lẽ trên, đề nghị HĐXX:

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, ông L, bà T còn phải trả các khoản lãi kể từ ngày 22/10/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất đã thỏa thuận, quy định tại các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Quan hệ tranh chấp là Hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng mà bị đơn ông L ghi trong hợp đồng tín dụng có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, còn theo kết quả xác minh ngày 22/02/2024 của Công an phường T thì địa chỉ của bị đơn ông L không thực tế cư trú, tạm trú, cũng không có đăng ký thường trú theo địa chỉ đã cung cấp cho Ngân hàng trong Hợp đồng tín dụng nên có đủ cơ sở xác định bị đơn ông L cố tình giấu địa chỉ, không trung thực thông tin địa chỉ liên lạc khi tham gia ký hợp đồng tín dụng. Đồng thời, kết quả xác minh còn cho biết bà T có đăng ký thường trú tại địa chỉ khác thuộc địa bàn phường T. Do vậy, Tòa án nhân dân Quận 12 căn cứ vào hợp đồng tín dụng và kết quả xác minh tiếp tục giải quyết vụ án và căn cứ Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bị đơn:

Bị đơn ông L, bà T được Thừa phát lại niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết 02(hai) lần Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L, bà T vẫn không đến tòa. Do đó, việc ông L, bà T không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông L, bà T liên đới trả cả 02 khoản nợ tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 21/10/2024, tổng số tiền nợ là 330.791.485 đồng.

Kể từ ngày 22/10/2024, ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ký ngày 17/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/01/2022 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

[3.1] Về hình thức:

[3.1.1] Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ngày 17/01/2022 phù hợp quy định Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.

[3.1.2] Về nội dung:

Đối chiếu các quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì Hợp đồng tín dụng nêu trên mà các bên ký kết có những nội dung như sau:

Đây là giao dịch cho vay của ngân hàng H1 đối với cá nhân dưới hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (nếu có phát sinh quá thời hạn quy định), số tiền vay: 285.000.000 đồng, bằng đồng Việt Nam với lãi suất thỏa thuận phù hợp với quy định của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ngày 17/01/2022 là loại Hợp đồng hạn mức tín dụng phát sinh hiệu lực pháp luật.

[3.2] Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/01/2022.

Về hình thức và nội dung: Thẻ tín dụng cấp theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng 17/01/2022 mà Ngân hàng cấp cho ông L là phù hợp quy định Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Do đó, nội dung thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng phát sinh hiệu lực pháp luật.

[3.3] Tại điểm a, khoản 1 và khoản 4, Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1 thì Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về kỳ hạn trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau: Trả nợ gốc, lãi tiền vay theo kỳ hạn riêng; Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay. Đối với khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau.

Như vậy, nghĩa vụ thanh toán trong 02 hợp đồng đã nêu rõ nghĩa vụ, thứ tự và thời hạn thanh toán nhưng bị đơn ông L, bà T không trả ngừng trả tức đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

[3.4.2] Mặt khác, tại khoản 3, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1 và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm còn quy định về: Lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày) tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó.

Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

  • Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
  • Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
  • Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Đồng thời, Ngân hàng được quyền quyết định miễn, giảm lãi vốn vay phải trả đối với khách hàng theo các nguyên tắc sau đây: Tổ chức tín dụng có quyền quyết định miễn, giảm lãi tiền vay, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ của tổ chức tín dụng. Do đó căn cứ khoản 4, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N1 thì việc Ngân hàng không tự nguyện giảm bớt giảm lãi tiền vay, phí là không vi phạm pháp luật.

[4] Như đã phân tích tại mục [3], Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 với các lập luận áp dụng quy định pháp luật có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Xét về án phí:

Bị đơn ông L, bà T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 16.539.574 đồng do phải thực hiện nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền: 330.791.485 đồng, cách tính: 330.791.485 đồng x 5%.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Buộc ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T liên đới trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tạm tính đến ngày 21/10/2024, là 330.791.485 (ba trăm ba mươi triệu bảy trăm chín mươi mốt ngàn bốn trăm tám mươi lăm) đồng.

Việc thi hành nghĩa vụ trả tiền thực hiện ngay sau khi án có hiệu lực.

Địa điểm thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày đến hạn thi hành và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T chưa thi hành xong thì còn phải trả số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay số 02/2022/HĐCV ký ngày 17/01/2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 17/01/2022 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lâm Ngữ Cát L và bà Trương Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 16.539.574 (mười sáu triệu năm trăm ba mươi chín ngàn năm trăm bảy mươi bốn) đồng thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền tạm ứng án phí là 6.824.803 (sáu triệu tám trăm hai mươi bốn ngàn tám trăm lẻ ba) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021503 ngày 09/01/2024 của Chi Cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa thì quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm), tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo thủ tục luật định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 942/2024/DS-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 942/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger