Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 941/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 22-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Mai.
  2. Bà Châu Thị Lệ .

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 1614/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 216/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thụy Trúc L, sinh năm: 1978; địa chỉ: B N, Tổ E, Khu phố G, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thiện C, sinh năm: 1976; HKTT: 24A N, Tổ E, Khu phố G, Phường C, quận G, Thành phố H; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/11/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trương Thụy Trúc L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thụy Trúc L với ông Nguyễn Thiện C ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/3/2003. Sau một thời gian sống chung, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn về mọi mặt, cả hai đã nỗ lực hóa giải những bất đồng nhưng không thành. Đời sống chung không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Trương Thụy Trúc L được ly hôn với ông Nguyễn Thiện C

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C có người con chung tên: Nguyễn Thiện N, sinh ngày 28/7/2004 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn An K, sinh ngày 06/5/2006 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010. Hiện nay, 03 con chung đang sống cùng mẹ là bà Trương Thụy T L. Bà Trương Thụy T L yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010 và không yêu cầu ông Nguyễn Thiện C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thụy Trúc L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung, nợ chung.

Bà Trương Thụy Trúc L khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thiện C. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thiện C chỉ tham gia một phiên họp và hòa giải nhưng không trình bày ý kiến. Sau đó, ông Nguyễn Thiện C không tham gia các buổi làm việc, phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thụy Trúc L bao gồm về yêu cầu ly hôn, trực tiếp nuôi con chung, cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: Bà Trương Thụy Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Trương Thụy Trúc L ly hôn với ông Nguyễn Thiện C; yêu cầu trực tiếp nuôi một (01) con chung tên Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010; không yêu cầu ông Nguyễn Thiện C cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thiện C để tham gia xét xử, nhưng ông Nguyễn Thiện C đều vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thụy Trúc L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

* Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này; thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thụy Trúc L được ly hôn với ông Nguyễn Thiện C.

- Về con chung: Giao một (01) con chung tên Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010 cho bà Trương Thụy Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Bà Trương Thụy T L không yêu cầu ông Nguyễn Thiện C cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Nguyễn Thiện C cho đến khi bà Trương Thụy Trúc L có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thụy Trúc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ pháp luật: Khi thụ lý vụ án Tòa án xác định tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn”. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Thiện C hiện đang cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Trình tự tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 23/KH, quyển số: 01-200 ngày 20/3/2003 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C phố H có căn cứ xác nhận hôn nhân giữa bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C là hợp pháp.

Căn cứ vào bản tự khai và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C sau một thời gian chung sống với nhau luôn bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, không có hạnh phúc. Bà Trương Thụy Trúc L điều kiện để hai bên hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân V Phường 14, quận G có nội dung: “...ông C và bà L ít giao tiếp và hàng xóm không liên hệ với địa phương. Vì vậy, Ủy ban nhân dân Phường A cũng như khu phố không nắm được mâu thuẫn phát sinh giữa hai vợ chồng và các vấn đề khác liên quan đến việc ly hôn...”.

Ông Nguyễn Thiện C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng ông Nguyễn Thiện C không đến Tòa, không có lý do về sự vắng mặt.

Xét thấy, vợ chồng cùng xây dựng gia đình là để thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ mọi việc trong cuộc sống nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C không còn sự chia sẻ lẫn nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Mặt khác, tình cảm của bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà Trương Thụy Trúc L là phù hợp với quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thụy Trúc L đối với ông Nguyễn Thiện C.

Về con chung:

Trong thời gian sống chung, bà Trương Thụy Trúc L và ông Nguyễn Thiện C có 03 con chung: Nguyễn Thiện N, sinh ngày 28/7/2004 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn An K, sinh ngày 06/5/2006 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010.

Căn cứ Giấy khai sinh số 239/2010, quyển số: 01/2010 ngày 23/6/2010 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy khai sinh số 77, quyển số: 01/2006 ngày 11/5/2006 Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy khai sinh số 104 ngày 20/8/2004 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định trẻ Nguyễn Thiện N, Nguyễn An K, Nguyễn Thiện T là con chung của bà Trương Thụy T L và ông Nguyễn Thiện C

Bà Trương Thụy T L nguyện vọng trực tiếp nuôi 01 (một) con chung tên Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010; không yêu cầu ông Nguyễn Thiện C cấp dưỡng nuôi con.

Mặc dù được Tòa án triệu tập ông Nguyễn Thiện C 3 lần nhưng ông Nguyễn Thiện C hầu hết không có mặt tại Tòa, không gửi văn bản thể hiện ý kiến của ông Nguyễn Thiện C việc nuôi con chung và cấp dưỡng. Qua ghi nhận ý kiến của trẻ, thì trẻ Nguyễn Thiện T có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Trương Thụy T L. Do đó, để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi bà Trương Thụy T L và ông Nguyễn Thiện C, cần giao con chung Nguyễn Thiện T cho bà Trương Thụy T L được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Bà Trương Thụy T L yêu cầu ông Nguyễn Thiện C nuôi con chung; Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Thiện C nhiều lần nhưng ông Nguyễn Thiện C hầu hết không có mặt tại Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với vấn đề này. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện, không trái pháp luật nên có cơ sở chấp nhận theo nguyện vọng của bà Trương Thụy Trúc L hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Nguyễn Thiện C

Về tài sản chung, nợ chung:

Bà Trương Thụy Trúc L không yêu cầu giải quyết; Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Thiện C nhiều lần nhưng ông Nguyễn Thiện C không có mặt tại Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nội dung vụ án và đúng quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016, bà Trương Thụy Trúc L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).

[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 232; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 17 Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thụy Trúc L được ly hôn với ông Nguyễn Thiện C.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 23/KH, quyển số: 01/2003 Ủy ban N1, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/3/2003 hết hiệu lực.

1.2. Về con chung: Có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thiện N, sinh ngày 28/7/2004 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn An K, sinh ngày 06/5/2006 (đã đủ 18 tuổi); Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010.

Giao 01 (một) con chung tên Nguyễn Thiện T, sinh ngày 16/6/2010 cho bà Trương Thụy Trúc L trực tiếp nuôi cho đến khi trẻ Nguyễn Thiện T đủ 18 tuổi. Bà Trương Thụy Trúc L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Thiện C cho đến khi bà Trương Thụy Trúc L có yêu cầu.

Ông Nguyễn Thiện C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Bà Trương Thụy Trúc L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này.

1.4. Về nợ chung: Bà Trương Thụy Trúc L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thụy Trúc L phải chịu số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0013165 ngày 18/12/2023 Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trương Thụy Trúc L nộp đủ án phí.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Chi cục THA Dân sự Q. Gò Vấp;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 941/2024/ HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 941/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thụy Trúc L và Ông Nguyễn Thiện C ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger